Bắc Giang – miền quê thuộc vùng Kinh Bắc xưa đã hình thành và lưu giữ được những nét văn hoá đặc trưng. Từ những mái đình, mái chùa cổ kính, rêu phong nằm thấp thoáng bên dòng sông đến làn điệu dân ca quan họ mượt mà làm say đắm lòng người… tất cả như được kết tinh lại trong không khí của những lễ hội mùa xuân. Về Bắc Giang vào dịp đầu xuân để khám phá những nét đặc sắc văn hóa xứ Kinh Bắc.

1. Về Hội Thổ Hà nghe quan họ.

“Làng quan họ quê tôi – tháng giêng mùa hát hội…” câu hát ngân nga thắm thiết tình người đã khắc sâu vào tâm khảm biết bao thế hệ người con vùng Kinh Bắc. Có một làng quan họ bên bờ bắc sông Cầu rất nổi tiếng đó chính là làng quan họ cổ Thổ Hà.

Về Thổ Hà dịp đầu xuân mùa lễ hội (từ ngày 20 – 22 tháng Giêng) bạn không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp cổ kính nhuốm màu thời gian của làng quê Việt Nam. Tại đây, bạn sẽ ngắm cảnh trên bến dưới thuyền của dòng sông Cầu; thăm đình làng, chùa, cổng làng, văn chỉ, xem các cây đa cổ thụ, thăm một số ngôi nhà cổ trong làng và những ngõ xóm hun hút; thăm quan làng nghề thủ công truyền thống, được đắm mình trong một không gian văn hóa dân gian truyền thống vô cùng sinh động và nhiều màu sắc của lễ hội làng. Điều đặc biệt nhất là bạn sẽ được nghe những làn điệu dân ca quan họ mượt mà của vùng Kinh Bắc.

le_hoi_tho_ha

Nhắc đến quan họ, người ta biết đến quan họ Bắc Ninh – di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận nhiều hơn các vùng quan họ khác. Tuy vậy lối quan họ ở làng Thổ Hà ở xã Vân Hà, Việt Yên được nhiều người đánh giá là “tịnh” nhất và quan họ Thổ Hà vẫn luôn tự hào là giữ được những nét đặc trưng nhất của giọng hát cha ông từ ngày xưa.

Nói quan họ ở đây “tịnh” nhất là bởi vì trong hội Thổ Hà các liền chị, liền anh chỉ hát các làn điệu quan họ cổ. Một hội hát quan họ Thổ Hà có thể dài hoặc ngắn, đôi khi kéo dài 2-3 ngày. Một canh hát thường có ba chặng. Chặng đầu tiên, người quan họ Thổ Hà thường dùng hình thức hát mời, theo kiểu lề lối. Chặng thứ hai là chặng vặt, sử dụng các điệu hát thông thường. Chặng thứ ba là chặng giã.

“Tịnh” nhất còn vì người Thổ Hà vẫn chỉ chơi quan họ, chứ không phải là hát. Trong truyền thống, người Kinh Bắc chơi quan họ để thỏa mãn nhu cầu giao lưu nghệ thuật cộng đồng giữa từng nhóm (bọn) quan họ kết nghĩa, họ không phải là diễn viên. Sau đó cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường nghệ thuật quan họ chính thức bước lên sân khấu biểu diễn chuyên nghiệp với rất nhiều sự khác biệt, đổi thay về nhiều mặt. Giờ đây, hầu khắp mọi sinh hoạt ca hát quan họ chỉ chủ yếu để biểu diễn thuần túy, rất ít thấy trường hợp hát chơi.

Tuy nhiên về làng Thổ Hà du khách sẽ được thưởng thức lối chơi quan họ. Chơi quan họ có những quy định nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi liền anh, liền chị phải am tường tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ. Có thể nói hát quan họ thì dễ còn chơi quan họ không phải ai cũng làm được. Chơi còn là hát bằng cả trái tim, hát để thỏa niềm đam mê, để trút hết nỗi lòng của người quan họ, chứ không phải là để kiếm tiền.

Gần đến ngày làng mở hội , các liền anh, liền chị quan họ có cơi trầu sang làng Diềm (Quả Cảm – Yên Phong – Bắc Ninh) để xin phép bà chúa quan họ và có lời mời liền anh, liền chị quan họ làng Diềm (nơi kết nghĩa với Thổ Hà) về dự hội và ca hát. Trong hội Thổ Hà, các liền chị, liền anh chỉ hát các làn điệu quan họ cổ. Một hội hát quan họ Thổ Hà có thể dài hoặc ngắn, đôi khi kéo dài 2-3 ngày. Một canh hát thường có ba chặng. Chặng đầu tiên, người quan họ Thổ Hà thường dùng hình thức hát mời, theo kiểu lề lối. Chặng thứ hai là chặng vặt, sử dụng các điệu hát thông thường. Chặng thứ ba là chặng giã, giọng hát lưu luyến trữ tình. Trên dòng sông Cầu mỗi chiếc thuyền nhỏ chứa 5 người, liền chị mớ ba mớ bẩy, liền anh khăn xếp áo the, nón quai thao và ô đen sát cánh bên nhau. Sau những canh hát trên sông, đêm về các canh hát lại diễn ra ở chùa Thổ Hà

Vì là chơi quan họ nên ngoài “xuân thu nhị kì,” hai đợt lễ hội chính, thì các liền anh, liền chị vẫn ngồi hát cho nhau nghe vào những đêm trăng thanh gió mát hay lúc nông nhàn. Họ trân trọng và không dễ dãi với câu hát. Đó là niềm tự hào riêng của quan họ Thổ Hà.

Sông Cầu mùa lễ hội trở nên lộng lẫy và duyên dáng hơn nhờ những làn điệu dân ca quan họ ngọt ngào. Sẽ thật thú vị biết bao khi mùa xuân này được về Thổ Hà ngồi thuyền xuôi dòng sông Cầu nước chảy lơ thơ, nghe những làn điệu dân ca quan họ mượt mà, tình tứ của các liền anh, liền chị nơi đây để được đắm mình trong không gian văn hóa Kinh Bắc thuở xa xưa.

2. Đến làng Vân xem hội vật cầu

Khánh hạ làng Vân hội vật cầu/Khắp vùng Kinh Bắc chẳng có đâu/Quan quân gắng sức giành cho được/Sân chơi bùn nước họa một màu. Đó là câu ca quen thuộc của người làng Vân- xã Yên Viên- Việt Yên- Bắc Giang về lễ hội vật cầu quê mình.

Đến làng Vân du khách sẽ được khám phá một lễ hội cực kỳ độc đáo đó có một không hai ở Bắc Giang. Đó chính là lễ hội vật cầu nước (diễn ra vào tháng 4 âm lịch hàng năm) – đặc trưng của nền văn hóa lúa nước.

Ấn tượng vô cùng thú vị của người xem về lễ hội này là những trai đinh khỏe mạnh, vạm vỡ đóng khố cởi trần, mình lấm lem bùn đất đang hào hứng lao vào để dành một quả cầu bằng gỗ có đường kính khoảng 40cm rồi tìm cách đẩy vào hố ở phần sân đội bạn. Không chỉ vậy, lễ hội vật cầu nước làng Vân còn mang chiều sâu ý nghĩa trong nguồn gốc, độc đáo trong cách làm sân cầu, tuyển chọn quân cầu cho đến việc thi đấu.

hoi_vat_cau_lang_van

Truyền thuyết kể rằng, vào thời kỳ giặc Lương sang xâm lược nước ta, Triệu Quang Phục đã cho mời bốn anh em nhà họ Trương (Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng, Trương Lẫy) ra giúp sức, trên đường đi bốn anh em ngài gặp một bầy quỷ dạ xoa chặn đường và bắt anh em ngài phải vật cầu với chúng giữa bãi sình lầy, nếu thắng mới cho đi và cuối cùng anh em nhà ngài đã thắng lũ quỷ. Cả 4 anh em đã tập hợp lực lượng theo Triệu Quang Phục đánh giặc và lập nhiều chiến công hiển hách, đuổi giặc Lương ra khỏi bờ cõi. Sau khi giành ngôi của Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử đã cho mời anh em họ Trương ra làm quan, anh em ngài đã cự tuyệt và tuẫn tiết xuống sông Cầu để tỏ lòng tận trung không thờ hai chúa… Cảm phục trước công lao và khí tiết của anh em ngài, các triều đại phong kiến sau này ban sắc cho các làng dọc sông Cầu tôn thờ làm thành hoàng với mỹ hiệu: Đức Thánh Tam Giang. Hàng năm, để tưởng nhớ công lao và ôn lại tích xưa, nhân dân làng Vân tổ chức hội đền và không thể thiếu trò vật cầu nước (còn gọi là hội Khánh Hạ) với ý nghĩa mừng chiến thắng. Đây còn là trò chơi mang nét đặc trưng của văn hóa lúa nước, thể hiện niềm khao khát của cư dân nông nghiệp mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Quả cầu tượng trưng cho mặt trời.

Trước khi diễn ra lễ hội là khâu chuẩn bị sân cầu. Sân cầu phải được xới xáo cẩn thận, dọn dẹp sạch sẽ. Làng lại cử ra hai cô gái trẻ đẹp nết na, chưa có chồng, mặc trang phục truyền thống của phụ nữ vùng Kinh Bắc, gánh nước từ sông Cầu đổ vào sân cầu. Đồ gánh phải là đòn gánh cong, quang song và gánh bằng hai chĩnh gốm Thổ Hà.

Việc tuyển chọn quân cầu chơi trong dịp này rất khắt khe, trước ngày diễn ra lễ hội, các thành viên trong ban khánh tiết đến tận nhà tuyển chọn người tham gia hội vật, đó là những trai đinh khỏe mạnh, vạm vỡ, phải có đủ đức, đủ tài và không có “bụi” (có tang). Những trai đinh này phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định của lệ làng, trong vòng một tuần trước khi tham gia các trận cầu tuyệt đối không được ăn thịt chó, giết mổ động vật và phải tắm rửa sạch sẽ trước khi tham gia chơi vật…

Sau khi lần lượt thực hiện các nghi thức tế Đức Thánh Tam Giang, mỗi người uống ba lưng bát rượu, ăn dưa hấu và xuống sân ra mắt khán giả. 16 quân cầu xếp thành 4 hàng, hai bàn tay đan vào nhau đặt trước bụng, rồi giơ lên ngang tầm mắt, đặt ở trước trán, cúi sát đất, quỳ gối, phủ phục lễ thánh. Sau đó chuyển thành vòng tròn, tay trái giữ bụng, tay phải giơ cao đi vòng quanh sân cầu 5 lần vừa đi vừa hô “hí hạ, hứ hẹ”, tỏ rõ sự vui mừng phấn khởi, tinh thần thượng võ. Khi ông chủ tế vừa gieo cầu xuống sân, cũng là lúc trai hai giáp trong bộ dạng cởi trần đóng khố nhảy ào vào dành cầu giữa bùn đất lấm lem, ai cũng quyết giành vận may. Cứ như vậy họ tranh tài quyết liệt trong vòng 3 ngày, mỗi ngày đánh 1 trận, mỗi trận 2 giờ đồng hồ.

Điều thú vị trong lễ hội vật cầu này, đó là không chỉ các quân cầu lấm lem bùn đất. Ngay cả khán giả đứng xem từ già đến trẻ đều tả tơi vì bùn đất do các quân cầu làm bắn lên. Tuy nhiên tất cả đều rất vui vẻ và hào hứng.

Kết thúc cuộc chơi, xóm đăng cai rửa sạch cầu rồi làm lễ tạ thánh, lễ vật dùng để tế tạ gồm: trầu, rượu, hoa quả theo lệ làng đặt ra “sáng tế chiêu, chiều tế tịch”. Quân cầu lại xếp thành 4 hàng dọc trước sân cầu để tạ thánh, rồi tất cả ùa ra sông Cầu tắm rửa, kết thúc một ngày trong hội vật cầu nước.

3. Về Cao Thượng ngắm hội chợ quê.

Nét đặc sắc trong văn hóa Kinh Bắc còn được thể hiện ở các phiên chợ quê. Những phiên chợ đơn giản thường họp từ sáng sớm tinh mơ, có thể là họp ở cạnh một cái quán, cây cầu hoặc bên gốc cây bàng, cây đa nào đó. Chợ quê mộc mạc chỉ có vài cái mái tre hay mái lá, cả người bán lẫn người mua cũng chỉ là người làng với nhau hoặc người ở làng kế bên. Những phiên chợ như vậy rất phổ biến ở Bắc Giang và Bắc Giang còn có cả hội chợ quê.

cho_cao_thuong

Người Cao Thượng có câu “Dù ai đi ngược về xuôi – Nhớ mồng hai Tết về chơi chợ nhà”. Câu ca đó để nói về hội chợ đình Cao Thượng (Tân Yên). Mỗi năm, chợ chỉ họp một phiên vào sáng mồng 2 Tết ở trước cửa đình Cao Thượng. Do có chợ ở đây nên đình Cao Thượng còn gọi là đình Chợ. Chợ họp từ 3,4 giờ đến 7-8 giờ là kết thúc. Mọi người đến chợ với thái độ vui vẻ, cởi mở của không khi ngày xuân. Với những bộ quần áo đẹp nhất của ngày Tết, các cụ ông áo lương khăn xếp đi lễ đình, các cụ bà với bộ áo tứ thân đi lễ chùa. Sau đó các cụ đều ra vãn cảnh chợ mừng xuân. Thanh niên nam nữ đến chợ vui mừng gặp bạn trao đổi tâm tình với những lời ước hẹn. Các em bé theo mẹ, theo anh chị đến chợ trong tâm trạng hân hoan vui sướng của ngày tết . Hàng hoá hôm chợ chủ yếu chỉ có rau, hành, rau cần, bún, bánh tro… Các bà nội trợ, bà nào cũng mua vài mớ rau cần, mớ cá ngon về làm bún cá đổi món sau những bữa ăn nhiều thịt của ngày tết. Người dân đến chợ ngoài việc trao đổi hàng hóa, thì việc chủ yếu là để gặp gỡ chúc tụng nhau những lời chúc tốt đẹp nhất. Ngưòi bán thì không nói thách, bán để lấy may. Còn người mua cũng quan niệm mua cho có lộc, không mặc cả. Trong buổi chợ từ em bé đến cụ già không bao giờ có sự to tiếng, từ lời nói đến cử chỉ đều tỏ ra lịch thiệp, lễ phép, chân tình và cởi mở. Ngày xuân, xuống chợ với những lời chúc tốt đẹp, với nếp sống văn hoá và lịch thiệp trong hội chợ Tết mồng 2. Phong tục đẹp ấy đã được duy trì từ đời này sang đời khác, từ năm này sang năm khác không bỏ một năm nào. Đến nay, hội chợ đình Cao Thượng đã tồn tại hơn một thế kỷ trở thành nét đẹp khắc sâu trong tâm trí người dân nơi đây.

Mộc Lan
Ảnh: Sưu tầm

Clip hay:



Advertising:

loading...