Quần thể danh thắng Tràng An được ví như “Hạ Long trên cạn” với gần 100 hang động tuyệt đẹp, vùng đất của người Việt cổ là di sản kép đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận với các giá trị về văn hóa, danh thắng nổi bật toàn cầu. Có người ví Tràng An như một bức tranh thủy mặc với hệ thống núi đá vôi trùng trùng điệp điệp, muôn hình vạn trạng, cùng với hệ thống sông, suối tuyệt đẹp chảy tràn trong thung lũng.

TS. Masanari Nishimura (Nhật Bản) qua nghiên cứu khảo cổ học tiền sử quần thể danh thắng Tràng An đã khẳng định: Cách đây 5.000-6.000 năm trước, có một trận động đất lớn ở Tràng An và người Việt cổ ở Tràng An đã trải qua nhiều sự biến đổi của thiên nhiên để thích ứng và phát triển cho đến ngày nay, tạo nên giá trị về một nền văn hóa Tràng An.


Đền thờ Đinh Tiên Hoàng (ảnh: Wiki)

Môi trường sống của người tiền sử – “Di sản là một ví dụ nổi bật về một kiểu định cư truyền thống của con người hoặc một phương pháp sử dụng đất truyền thống, đại diện cho một nền văn hoá (hoặc các nền văn hoá), nhất là khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới tác động của những biến động không thể phục hồi”.

Tràng An là một địa điểm mang ý nghĩa quốc tế cho việc trình bày và hiểu biết về cách thức ứng xử của người Việt cổ với cảnh quan thiên nhiên và thích ứng với những thay đổi trong môi trường sống qua hàng ngàn năm của kỷ Holocen giữa 23000 năm đến thời kỳ cận đại, và trong sự đặc trưng trong suốt thời kỳ tăng lên các mực nước biển rộng khắp thế giới hậu Pleistocen như một sự ấm lên toàn cầu và tan chảy băng liên tục, ngập lụt nhiều khu vực ven biển và đất thấp được biết đến là sự xâm thực Flandrian.

Tràng An là địa điểm nổi bật trong khu vực Đông Nam Á và có ý nghĩa trên phạm vi thế giới cho thấy cách mà người tiền sử sinh sống hòa hợp với cảnh quan tự nhiên và thích ứng với biến đổi to lớn về môi trường trải dài ít nhất 30.000 năm.

img_0039
Non nước Tràng An

Có trên 30 di tích khảo cổ học thời tiền sử đã được phát hiện trong Quần thể danh thắng Tràng An. Kết quả nghiên cứu cho thấy cách người tiền sử thích nghi với biến cố lớn về môi trường, cảnh quan. ít nhất là từ khoảng 23.000 năm đến nay, một số nền văn hóa tiền sử đã hiện diện liên tục ở khu vực này, từ thời đồ đá cũ qua thời đại Đá mới đến thời đại đồ Sắt và đồ Đồng. Trong khoảng thời gian đó, khu vực này cũng đã trải qua một số lần dao động mực nước biển đáng kể.

Trong điều kiện tự nhiên đặc biệt, hầu như chỉ có đá vôi là chất liệu đá duy nhất, người Tràng An đã biết sử dụng nó làm công cụ lao động ít nhất cho đến cách nay khoảng 3.000 năm, trong quá trình đó đã nhận biết được rằng đá vôi đô-lô-mít thuộc loại chất liệu tốt nhất có thể có.

Đồng thời với giai đoạn biển tiến lớn nhất cuối cùng (khoảng 7.000-4.000 năm trước) người tiền sử Tràng An đã biết tới nghệ thuật làm đồ gốm. Những chứng cứ sớm nhất được cho là tương đương với gốm Đa Bút (6.000 năm trước), nhưng thực tế đã được làm ra ở đây sớm hơn nhiều (khoảng 9.000 năm trước) và phát triển liên tục qua thời đại Kim khí đến tận sau này. Việc sử dụng đồ gốm từ sớm và không bị gián đoạn ở Tràng An chứng tỏ rằng một trung tâm gốm sứ rất khác biệt so với nhiều trung tâm gốm sứ khác ở Việt Nam đã từng tồn tại ở đây.


Một số cổ vật của quần thể Tràng An (ảnh: Wiki)

Lịch sử văn hóa lâu dài gắn bó chặt chẽ với quá trình tái tạo địa chất của sơn khối núi đá vôi Tràng An vào giai đoạn cuối Pleitocene và Holocene. Tràng An là di sản văn hóa thế giới lâu dài và duy nhất về con người và ứng xử của con người đối với những thách thức, biến đổi và cơ hội qua hàng chục nghìn năm, đang mang lại các cách tiếp cận tiên phong trong việc tìm hiểu quá trình cư trú của con người, với mục đích tăng cường khả năng thích ứng trước những biến đổi môi trường sắp xảy ra trong thế giới ngày nay.

Kinh đô Hoa Lư của người Việt cổ. Đến thế kỷ X ở thung lũng mở Hoa Lư, cư dân Tràng An đã không ngừng phát triển bản sắc văn hóa của họ trong sự hòa hợp, chặt chẽ với cảnh quan thiên nhiên. Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân đã xây dựng Kinh đô Hoa Lư bằng cách đắp thành, nối liền những ngọn núi, khép kín thung lũng đá vôi để phục hưng văn hóa lập nên ba triều đại đầu tiên của nền phong kiến độc lập của Việt Nam: nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lý với các dấu ấn lịch sử: thống nhất giang sơn, đánh Tống – dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội.

Bên cạnh đó là khu rừng môi trường Hoa Lư có hàng loạt các giá trị lịch sử, văn hoá và du lịch. Di tích Cố đô Hoa Lư hiện nay có rất nhiều đình, đền, chùa, phủ như: đền Vua Đinh Tiên Hoàng, đền Vua Lê Đại Hành, đền thờ Công chúa Phất Kim, chùa Nhất Trụ, phủ Vườn Thiên, chùa Kim Ngân, chùa Duyên Ninh, phủ Chợ, động Am Tiên, đình Yên Trạch, chùa Bà Ngô, động Liên Hoa, đền Trần, phủ Khống, phủ Đột, chùa Bái Đính, động Thiên Tôn, động Hoa Lư, đền thờ Đinh Bộ Lĩnh…

Cảnh sắc Tràng An từ góc nhìn của con người những thế kỷ trước

Thế kỷ XIII triều đại nhà Trần chọn vùng núi Tràng An để xây dựng hành cung Vũ Lâm với vai trò là một căn cứ quân sự để củng cố lực lượng góp phần chiến thắng quân Nguyên — Mông và là nơi các vua Trần xuất gia tu hành, hướng đạo cho dân chúng. Cảnh sắc của thời kỳ này còn được lưu lại qua bức họa nổi tiếng “Trúc Lâm Đại Sỹ xuất sơn đồ”. Từ họa phẩm tranh thủy mặc kết hợp nghệ thuật thư pháp đặc sắc, đã miêu tả cảnh Trúc Lâm đại sĩ (tức Trần Nhân Tông) từ động Vũ Lâm thuộc Quần thể khu danh thắng Tràng An xuất du. Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ được vẽ trên một trường quyển (长卷) có kích thước 961×28 cm. Trên bức họa này có vẽ nên cảnh sắc của một vùng Tràng An núi liền múi, mây liền mây, phía xa là sông Ngô đồng lấp lánh, với hoa lau trắng, thông già, ngô đồng phấp phới bờ sông. Phong cảnh Tràng An xưa thật thanh bình. Qua đó có thể khẳng định trong lịch sử, cha ông ta đã có nền văn hiến rực rỡ và cảm khái trước cái đẹp của non nước như thế nào.

truclam-dai-sy1

Cảnh sắc Tràng An còn được chúa Trịnh Sâm đề thơ mô tả vào mùa đông năm Canh Dần (1770). Chúa Trịnh Sâm đi tuần thú cõi Tây, lúc quay thuyền trở về, đi tắt tới đất Tràng An thăm cảnh Hoa Lư. Nhìn bốn phía núi xanh, nước biếc, cửa khoá mấy lần, từng bước đều là thành vàng và hào nước. Non sông hùng tráng, hình thắng to lớn. Xem dấu vết của triều Đinh mà suy ngẫm… khiến ông cảm khái làm một bài thơ tạc lên vách đá hang Luồn để tả nỗi lòng:

Phong cảnh Tràng An
“Quay thuyền về tới bến Trường Yên,
Nhác thấy Hoa Lư cũng thuận miền.
Như tấm lụa chăng, hang giội nước,
Có từng núi mọc, cửa chồng then.
Cố đô đã mấy hồi thay đổi,
Thiên phủ còn nguyên dấu vững bền.
Hưng phế xưa nay bao chuyện cũ
Lòng dân đáng sợ chớ nên quên.”

Có lẽ, với những ai thích khám phá về văn hóa thì khi du ngoạn qua mảnh đất này cũng phải yêu thích vì khi tới nơi này ta như được sống lại cùng những thời kỳ văn minh huy hoàng, những thời thái bình thịnh trị của các triều đại và và những câu truyện thần tiên được kể lại.

San san
Ảnh: sưu tầm

Clip hay:



Advertising:

loading...

Các Bài Viết Liên Quan