“Tây Du Ký” từ khi ra đời đến nay vẫn luôn nhận được sự yêu mến của mọi người. Người ta không chỉ yêu thích các hình tượng nhân vật trong đó, tình tiết trong đó, mà cả tinh thần lạc quan hướng thiện thể hiện trong tác phẩm. Nhận thức của người Trung Quốc đối với tu luyện, Thần Phật, thế giới thiên quốc, yêu ma quỷ quái, rất nhiều đều có liên quan với “Tây Du Ký”. Về nội hàm và ý nghĩa chính của “Tây Du Ký” luôn có nhiều cách nói khác nhau và phức tạp, khó có thể đưa ra được kết luận. Đại Kỷ Nguyên xin đưa ra một số lý giải xung quanh vấn đề này, mong được cùng độc giả gần xa góp ý, thảo luận.

Tác phẩm “Tây Du Ký” kể về quá trình thỉnh kinh của 4 thầy trò Đường Tam Tạng. Câu chuyện hấp dẫn người đọc với những tình tiết ly kỳ, yêu ma quỷ quái, nhưng ở một khía cạnh khác, cả tác phẩm thực chất chính là ẩn ý về quá trình tu luyện của một người trên con đường viên mãn đắc Đạo.

Phần 1: Lý giải “Tây Du Ký” từ góc độ tu luyện: Tôn Ngộ Không thác sinh từ tảng đá

Ý nghĩa thực sự đằng sau cái tên của Tôn Ngộ Không

Thoạt đầu, khi Tổ Sư hỏi Hầu vương tên gì, Hầu vương nhanh miệng đáp rằng không có danh tính. Nghe vậy, Tổ Sư bèn nói: “Ta muốn theo hình dáng nhà ngươi, đặt họ Hồ [] nhưng vì chữ hồ bỏ khuyển [] chỉ còn chữ cổ [古], chữ nguyệt [月]. Cổ nguyệt có nghĩa là trăng già – không tốt. Thôi ta đặt cho ngươi họ Tôn [], chữ tôn bỏ khuyển [] bằng còn chữ tử [子], chữ hệ [系] là còn trẻ, còn lớn, còn khôn, tốt lắm!”

(Chú thích: Ở Trung Quốc thời đó có 2 giống khỉ lông ngắn, đuôi ngắn với tên gọi Hồ Tôn và Vương Tôn. Vì Thạch Hầu có hình dáng giống loại khỉ Hồ Tôn nên Tổ Sư Bồ Đề quyết định lấy tên gọi của loài khỉ này bỏ đi bộ thú là khuyển để đặt thành tên người).

Nhiều người trong chúng ta khi đọc đoạn này thường lý giải rằng vì Thạch Hầu tinh nghịch, bản tính như trẻ thơ nên Tổ Sư mới đặt họ là Tôn. Nhưng thực ra cái tên này ám chỉ trong quá trình tu luyện, con người ta nên xả bỏ hết thảy các quan niệm, ràng buộc của mình như hồi mới sinh thì mới có thể đắc Đạo. Tất nhiên không phải ý nói rằng trở thành ngốc nghếch mà là thực sự thiện lương như một đứa trẻ. Trong đạo Lão cũng nói rằng, muốn tu hành đạt Đạo, con người phải có được cái tâm hồn nhiên của trẻ mới đẻ (xích tử chi tâm), cũng vậy, kinh Tân ước chép lời chúa Jesus khuyên môn đệ hãy giữ tâm hồn như con trẻ thì mới vào được thiên đàng nước chúa.

Điển tích thú vị đằng sau câu chuyện Tổ Sư Bồ Đề gõ vào đầu Ngộ Không 3 cái

Trong quá trình học đạo của Tôn Ngộ Không có kể về đoạn trích rất hay là Thạch Hầu hiểu được ngụ ý của Tổ Sư sau khi bị ngài gõ vào đầu 3 cái. Trước khi đưa ra lý giải về đoạn này, chúng tôi mạn phép kể về một câu chuyện kinh điển trong Phật giáo.

Có một hôm các đệ tử đứng dưới đàn nghe Phật tổ Như Lai thuyết Pháp, Phật tổ điềm đạm bước lên đài, trong tay ngài lại cầm một bông hoa và ngài đang thưởng ngoạn bông hoa đó. Mọi người đều cảm thấy rất kỳ lạ, duy chỉ có Ca Diếp là vẫn lặng lẽ tôn kính nhìn rồi bỗng nhiên phá lên cười. Xem kìa Phật tổ nhặt hoa, Ca Diếp cười chứng tỏ vị đệ tử này đã ngộ được ý sâu xa của Phật tổ.

phat
Phật tổ cầm hoa lên thưởng ngoạn, chỉ có Ca Diếp hiểu được ngụ ý của ngài là gì. (Ảnh: Nichiren-etudes)

Giống với câu chuyện Phật tổ nhặt hoa, Ca Diếp cười, Sư Tổ Bồ Đề cho rằng Ngộ Không rất có ngộ tính nên quyết định đem công pháp tính mệnh song tu truyền thụ cho Ngộ Không. Ngài liền bước xuống đài, gõ vào đầu Ngộ Không 3 cái. Tôn Ngộ Không liền hiểu ra ám hiệu của Tổ Sư nên canh ba nửa đêm lẻn vào phòng ngủ của ngài để nghe chỉ giáo.

Đọc đến đoạn này, nhiều người sẽ thắc mắc rằng, tại sao không truyền thụ công pháp này cho tất cả các đệ tử cùng học? Câu này đối với những ai không tìm hiểu về tu luyện thì thấy rất khó lý giải. Phật gia xưa nay vẫn giảng phổ độ chúng sinh, Pháp được truyền ra cho tất cả chúng sinh cùng nghe, ai tu được, tu đến đâu là việc của bản thân người ấy. Nhưng Đạo gia thì không vậy, Đạo gia xưa nay là thanh tu độc tu, vì không còn ở trong luân hồi sinh tử, nên họ tự do tự tại, ngao du sơn thủy khắp nơi, gặp được người có duyên mới độ. Ngoài ra bên Đạo gia đặt trọng điểm về tu mệnh, diễn hóa bản thể nên yêu cầu tâm tính người học rất cao, những người tâm tính thấp khi tu luyện tư tưởng hỗn loạn sẽ làm hỏng những cơ chế mà vị Sư Phụ cài trên thân thể người này, ngoài ra việc tu luyện rất gian khổ, người bình thường không thể chịu đựng nổi. Còn một vấn đề nữa là khi một người muốn tu luyện, sẽ có rất nhiều ma tới quấy phá, với năng lực của mình, các vị chân Sư chỉ có thể bảo hộ được một đồ đệ, nhiều hơn nữa thì họ không làm nổi. Đó là lý do tại sao mà họ phải chọn đồ đệ để truyền và không phổ biến công khai.

Người ta thường nói, Trung Hoa là mảnh đất Thần truyền, bất kỳ sự việc gì xảy ra ở đây đều không đơn giản, mỗi chữ viết, câu chuyện đều có tầng tầng nội hàm. Sau khi đọc Tây Du Ký, tôi quả thực cũng có cảm giác như vậy. Nhiều người có thể cho rằng người viết nói hơi quá nên tôi xin kể ra một điển cố rất thú vị có liên quan tới việc Tổ Sư cầm thước gõ vào đầu Ngộ Không để chứng minh luận điểm này. Điển cố đó có tên là “Lục Tổ đàn kinh”, trong đó có kể về việc Ngũ tổ của phái Thiền Tông từng gọi các môn đồ lại và dạy rằng:  “Người trong đời sanh tử là việc lớn, các ngươi cứ lo làm việc phước mà chẳng cầu ra khỏi sanh tử. Cái tánh của mình nếu còn mê cái phước làm sao cứu đặng ra khỏi luân hồi. Các ngươi hãy lui ra, tự xét cái trí huệ, lấy tánh Bát nhã nơi tâm mình, mỗi người làm một bài kệ, đem lại trình ta coi. Nếu ai ngộ được đại ý, thì ta sẽ trao Y và Pháp cho đặng làm tổ thứ sáu. Đi mau đi, cần phải nóng như lửa, chẳng đặng chậm trễ. Nếu còn phải suy nghĩ thì chẳng dùng được. Người nào thấy đặng Tánh, coi trong lời lẽ sẽ thấy ngay. Người như vậy như bậc tướng tài quơ đao xông ra trận, thấy thì biết liền”.

Lục tổ Huệ Năng nghe xong vội làm một bài kệ và dâng lên sư phụ. Nội dung bài thơ đó như sau:

Bồ Đề bản vô thụ,
Minh kính diệc phi đài;
Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nặc trần ai?

Tạm dịch:

Bồ Đề vốn chẳng phải cây,
Gương sáng cũng chẳng phải đài;
Xưa nay không có vật gì,
Nơi nào không dính bụi trần?

Bài kệ viết xong, tất cả môn đồ đều kinh sợ, không ai khen và nghi hoặc, họ nói: “Người ta thưởng bảo người Lãnh Nam là giống muông mọi, tại sao vị này lại có thể làm được bài kệ này. Quả là không thể lấy tướng mạo mà định người”.

Ngũ Tổ thấy mọi người đều kinh ngạc, ngài sợ Huệ Năng sẽ bị người khác hãm hại bèn lấy dép bôi bài kệ đi và nói: “Cũng chưa thấy Tánh“. Môn đồ nghe theo lời Ngũ Tổ, cho là như thế.

Công việc hàng ngày của Lục tổ Huệ Năng là giã gạo. (Ảnh: Internet)

Hôm sau, nhân lúc vắng người, Ngũ tổ lặng lẽ tìm đến Huệ Năng, thấy Huệ Năng đang giã gạo, Ngũ tổ nói vài lời xong, rồi dùng thiền trượng gõ vào cối đá ba cái, đoạn rời đi. Lúc đó Huệ Năng đã hiểu được ý của Ngũ tổ, nên đến canh ba nửa đêm, ông lặng lẽ đến chỗ của Ngũ tổ; Ngũ tổ dùng áo cà sa che ánh sáng của ngọn đèn trước cửa sổ, và giải thích kinh “Kim Cương” cho Huệ Năng. Nhờ tu luyện tinh tấn, Huệ Năng cuối cùng đã ngộ được hết vạn pháp, tìm về được bản tính tiên thiên của mình, trở thành một vị La Hán.

Tương tự như vậy, Ngộ Không chỉ thông qua những hành động tưởng chừng như nổi giận Tổ Sư mà hiểu được ngụ ý của ngài thì quả thực là căn cơ phi phàm, xứng đáng làm đệ tử chân truyền.

Thanh Phong

Xem thêm:

Clip hay:



Advertising:

loading...

Bài Liên Quan