“Tây Du Ký” từ khi ra đời đến nay vẫn luôn nhận được sự yêu mến của mọi người. Người ta không chỉ yêu thích các hình tượng nhân vật trong đó, tình tiết trong đó, mà cả tinh thần lạc quan hướng thiện thể hiện trong tác phẩm. Nhận thức của người xưa đối với tu luyện, Thần Phật, thế giới thiên quốc, yêu ma quỷ quái, rất nhiều đều có liên quan với “Tây Du Ký”. Về nội hàm và ý nghĩa chính của “Tây Du Ký” luôn có nhiều cách nói khác nhau và phức tạp, khó có thể đưa ra được kết luận. Loạt bài này xin đưa ra một số lý giải “Tây Du Ký” về góc độ tu luyện, mong được cùng độc giả góp ý, thảo luận.

Tác phẩm “Tây du Ký” kể về quá trình thỉnh kinh của 4 thầy trò Đường Tam Tạng. Câu chuyện hấp dẫn người đọc với những tình tiết ly kỳ, yêu ma quỷ quái, nhưng ở một khía cạnh khác, cả tác phẩm thực chất chính là ẩn ý về quá trình tu luyện của một người trên con đường viên mãn đắc Đạo.

Câu chuyện được mở đầu bằng việc kể về một con khỉ được sinh ra từ một tảng đá hấp thụ linh khí của đất trời, nhật nguyệt qua hàng ngàn năm. Sau khi thoát ra khỏi tảng đá, nó tung tăng nhảy nhót khắp nơi, mắt tỏa ra ánh hào quang chói lòa.

Trong giới tu luyện có nói đến vấn đề căn cơ và ngộ tính, một người có thể tu luyện đến đích được hay không hoàn toàn phụ thuộc vào căn cơ và ngộ tính của người ấy. Thạch Hầu là do Thiên Địa hóa dục mà thành, sinh ra tự nhiên đã phù hợp với đặc tính của vũ trụ, cũng chính là ám chỉ căn cơ rất cao. Mặc dù vậy, khi Thạch Hầu rửa mắt bằng nước của thế gian này, đôi mắt của nó bị mất ánh sáng vàng kim. Từ điều này chúng ta có thể hiểu được rằng những người mới sinh ra rất tinh khiết cả thân lẫn tâm. Sau này, trong quá trình “học tập” kiến thức và cách cư xử với người và vật trong đời sống hằng ngày, thì mất hết tính tự nhiên mà trời ban cho. Chính vì lý do này, trên con đường tu luyện, người ta nói về tống khứ tất cả các quan niệm cũ của thế gian, phản bổn quy chân, trở về với bản tính tiên thiên của mình.

Phật tính nhất xuất, chấn động thập phương thế giới

Trong hồi 1 – Khí thiêng kết tụ sanh khỉ đá có đoạn: “Mỹ Hầu vương hưởng phúc vui vẻ, thoắt đã ba bốn trăm năm. Một hôm, Hầu vương đang cùng bạn bè yến tiệc vui vẻ, bỗng nhiên phiền não, nước mắt giàn giụa. … Hầu vương nói: ‘Ta tuy trong lúc vui thích, nhưng có một điều phải lo xa, cho nên phiền não … Ngày nay tuy không phải theo pháp luật của vua chúa, không sợ oai quyền của muông thú, nhưng một mai tuổi già sức yếu, lão Diêm vương vẫn ngấm ngầm quản lý. Một ngày kia chết đi, chẳng hóa uổng công sinh ở thế gian, không được hưởng mãi phúc Trời ư?’ … Bỗng trong ban bệ, một con vượn lưng thẳng nhảy ra, lớn tiếng thưa rằng: ‘Đại vương biết lo xa như thế, vậy là Đạo tâm đã khai phát rồi đấy! …  Trên đời khó ai tránh khỏi cái chết, trừ ba bậc: Phật, tiên và thần thánh. Ba bậc ấy không sinh không diệt, thọ ngang cùng Trời Đất, sánh cùng núi sông’. Hầu vương nghe nói vội hỏi: ‘Ba bậc ấy ở đâu?’ Con vượn thưa: ‘Họ ở ngay trong thế giới Diêm Phù này (chỉ thế giới con người), những nơi động cổ, núi tiên’. Hầu vương nghe nói, trong lòng thỏa mãn vui mừng nói rằng: ‘Ngày mai ta sẽ từ giã các ngươi xuống núi, đi khắp góc biển chân trời, quyết tâm tìm cho được ba đấng ấy, học lấy phép trường sinh bất lão, để tránh nạn Diêm vương’”.

Bình thường, bất cứ ai sống một cuộc sống thoải mái cũng không nghĩ đến tu luyện. Tuy nhiên Thạch Hầu có một căn cơ rất tốt. Sau khi hưởng lạc mấy trăm năm, nó lại có thể tự biết sinh mệnh vô thường, càng tỏ rõ ngộ tính rất cao. Trong Phật gia cũng có câu rằng: “Phật tính nhất xuất, chấn động thập phương thế giới”. Khi một người có tâm tu đạo, khi tâm đó xuất ra thì sẽ chấn động thiên giới, bất cứ một vị thần tiên nào nhìn thấy điều này thì đều muốn giúp người kia tu luyện. Câu nói “Đại vương biết lo xa như thế, vậy là Đạo tâm đã khai phát rồi đấy!” chính là ám chỉ điều này. Ngoài ra trong giới tu luyện ai cũng biết rằng, “Sư phụ tìm đồ đệ, chứ không phải đồ đệ tìm sư phụ”. Các bậc chân sư đắc đạo thường dựa vào lượng ít nhiều của Đức mà một người mang trên thân cũng như ngộ tính của người đó để quyết định việc có nhận người đó làm đồ đệ chân truyền hay không. Nếu người đó không có duyên phận, nghiệp lực nhiều, ngộ tính kém thì có đi tìm cũng không gặp hoặc gặp cũng không đắc được gì. Bồ Đề Tổ Sư tuy sống trong cõi phàm, nhưng cũng là bậc đắc đạo cho nên việc sau này Thạch Hầu tìm thấy được nơi ở của vị Tiên này cũng không phải là ngẫu nhiên.

Đoạn trích miêu tả cuộc đối thoại giữa Thạch Hầu và Bồ Đề Tổ Sư cũng thể hiện rõ ra việc căn cơ phi phàm của Ngộ Không đã giúp Ngộ Không tìm được vị Tổ Sư này.

ton ngo khong1
Hình ảnh Tôn Ngộ Không và Tổ Sư Bồ Đề trong phim Tây Du Ký (1986). (Ảnh: Internet)

Khi Bồ Đề Tổ Sư hỏi “Nhà ngươi tên gì?”, Thạch Hầu nhanh miệng trả lời ”Con không có danh tính. Nếu người khác chửi con, con không thấy phiền não; nếu người khác đánh con, con cũng không tức giận; chỉ là lấy lễ đáp lại là được. Một đời không có tên”. Điều này xem ra giống như vô ý đổi chủ đề, nhưng thực chất là ám chỉ Ngộ Không tâm tính rất cao, dù bị người khác mắng chửi cũng không để trong tâm. Chính vì lẽ đó nên sau này Ngộ Không mới có thể nhanh chóng ngộ đạo như vậy.

Tu luyện chính là tu tâm…

Quay trở lại thế giới hiện thực, chúng ta có thể thấy ngày nay có rất nhiều người coi trong việc học thuộc kinh sách, họ cho rằng nắm được bao nhiêu kinh sách thì có thể viên mãn. Có người thì hàng ngày chăm chỉ thắp hương, niệm Phật, nghĩ tưởng rằng như thế có thể thành Thần, thành Phật, đến được thế giới thiên quốc. Điều này rất buồn cười vì làm những việc đó không khác chi mò trăng đáy nước, muốn thông qua những việc hữu vi để viên mãn là điều không tưởng. Trong Phật gia có câu “Phật tại tâm trung mạc lăng cầu, Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu…”, nhiều người không hiểu ý nghĩa câu này và thường lý giải là Phật ở trong tim, thực ra không phải. Người xưa hay nói tâm thành Linh Đài, còn chữ “lăng” giải thích theo nghĩa cổ văn nghĩa là loạn, lăng cầu nghĩa là tìm loạn, cho nên bạn không nên chạy đôn chạy đáo tìm kiếm ở đâu mà hãy tập trung vào tâm của mình, thay đổi cái tâm của mình thì mới có thể tu thành Phật được. Theo tôi ý nghĩa của câu này chính là như thế.

Đoạn trích miêu tả Thạch Hầu tìm thấy Tổ Sư Bồ Đề cũng diễn đạt ý này. Vị tiên nhân này ở nơi nào? Trong truyện viết là, “Linh Đài Phương Thốn sơn, Tà Nguyệt Tam Tinh động”, thực chất đây chính là một kiểu chơi chữ, bởi từ xưa người ta thường nói tâm thành “Linh Đài”, còn “Phương Thốn” theo đạo Lão chính là đan điền, nằm cách dưới rốn 3 đốt ngón tay, cũng là để ám chỉ chỉ tâm. “Tà Nguyệt Tam Tinh động” lại càng dễ hiểu hơn, “Tam Tinh” (ba ngôi sao) chính là ba nét chấm của chữ “tâm” (心), “Tà Nguyệt” (vầng trăng khuyết) chính là nét móc nằm ngang. Ngoài ra cái tên của vị Tổ Sư này cũng ám chỉ một thiên cơ to lớn. Trong kinh “Kim Cương” của phật giáo có nhắc đến tâm Bồ Đề với nghĩa chỉ bản tính tiên thiên thuần khiết của con người, cho nên quá trình Ngộ Không đi tìm vị Tổ Sư này chẳng phải chính là quá trình tu tâm, quá trình tìm về bản tính chân thật của mình hay sao?

Loạt bài lý giải về “Tây Du Ký” từ góc độ tu luyện kỳ 1 xin khép lại tại đây. Mời các bạn đón đọc kỳ tiếp theo vào tuần sau…

Thanh Phong (tổng hợp)

Xem thêm:

Clip hay:



Advertising:

loading...

Các Bài Viết Liên Quan