Một nhóm chuyên gia bao gồm các luật sư, thẩm phán, và nhà tư vấn đã thảo luận kỹ lưỡng tại trường Luật Brooklyn hôm 21/1, về vấn đề liệu Trung Quốc có vẫn còn tạo ra mối đe dọa cho các công ty của Mỹ về phương diện hoạt động thương mại trái phép hay không.

Ít nhất một chuyên gia đã trả lời là hoàn toàn có – Christopher Cloutier, một hội viên của công ty hợp danh King & Spalding LLP chuyên giúp các công ty Mỹ chống lại các hoạt động thương mại trái phép của Trung Quốc.

Ông này nói rằng mặc dù tổng số các vụ bồi thường thương mại là nhỏ (khoảng 1% trên tổng các trao đổi mậu dịch), nhưng các công ty Trung Quốc vẫn “nổi bật”.

Trao đổi với Thời báo Đại Kỷ Nguyên (Epoch Times), ông Cloutier cho hay: “Toàn bộ tiền đề đằng sau các vụ kiện mà chúng tôi thực hiện là có một yếu tố không công bằng. Thông thường nó nghĩa là sản phẩm Trung Quốc được trợ cấp. Chính quyền Trung Quốc đã cung cấp một lợi thế, thông qua các mức thuế đặc biệt, giá đất thấp, hoặc thông qua các khoản vay theo chính sách”, các khoản vay không được cấp với mục đích kinh tế mà để tuân theo các chính sách công nghiệp vốn hướng đến đẩy mạnh xuất khẩu. “Trung Quốc có nhiều chính sách công nghiệp hơn bất kỳ quốc gia nào khác”, ông nói thêm.

Theo ông Cloutier, các sản phẩm Trung Quốc dính líu đến nhiều vụ kiện thương mại hơn sản phẩm của bấy kỳ quốc gia nào khác. Ông tin rằng đây là một dấu hiệu cho thấy một số chính sách công nghiệp thúc đẩy loại hành vi này.

Các thành viên khác của nhóm chuyên gia như William Perry, một hội viên của công ty hợp danh Dorsey & Whitney LLP, nói rằng Mỹ đang tập trung đặc biệt vào việc trừng phạt các công ty Trung Quốc. Ông này trích dẫn thực tế rằng Trung Quốc vẫn được gán là một “nền kinh tế chỉ huy” dưới các luật lệ của Bộ Thương mại, trong khi các quốc gia như Nga được gán là một nền kinh tế thị trường và do đó ít đối mặt với sự kiểm soát chặt chẽ hơn.

Nếu một công ty Trung Quốc bị phát hiện là gian lận, thuế nhập khẩu thêm sẽ được áp đặt lên các sản phẩm liên quan, đôi khi gấp nhiều lần giá bán gốc. Hải quan sau đó sẽ thu thuế từ các nhà nhập khẩu ở Mỹ, vốn thường ngừng nhập khẩu sản phẩm nếu thuế quá cao.

Nếu một công ty Trung Quốc bị phát hiện là gian lận, các loại thuế nhập khẩu phụ thêm sẽ được áp lên những sản phẩm liên quan, đôi khi gấp nhiều lần giá bán ban đầu. Hải quan sau đó sẽ thu những loại thuế này từ nhà nhập khẩu có trụ sở tại Mỹ, vốn thường ngừng nhập sản phẩm này nếu các loại thuế quá cao.

Tuy nhiên, ông Cloutier nói rằng có một số vấn đề với việc thực thi các loại thuế này: “Đôi khi những công ty nhập khẩu này đột nhiên biến mất hoặc bị phá sản. Đây là những công Mỹ nhưng chúng có thể được thành lập bởi một thực thể nước ngoài”.

Ông cũng giải thích tại sao thuế quan áp đặt với Trung Quốc không cao, căn cứ vào các họat động trái phép phổ biến này. Bởi vì Trung Quốc là một quốc gia thuộc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nên Mỹ phải đối đãi với nước này giống như bất kỳ quốc gia khác và không thể áp thuế quan thêm đối với Trung Quốc, trừ khi có một sự vi phạm hiệp định.

Trái lại, Trung Quốc thường phô trương các luật lệ của WTO và trực tiếp áp đặt các thuế quan mang tính trả đũa sau khi một quốc gia như Mỹ hành động để ngăn chặn việc bán phá giá hoặc trợ cấp. Theo WTO, thay vì hành động đơn phương, một quốc gia phải kháng cáo các loại thuế mà nước đó cho rằng không hợp lý trước WTO.

“Giải pháp duy nhất cho các tranh chấp nên là WTO”, ông Cloutier nói.

Valentin Schmid, Epoch Times

Clip hay:



Advertising:

loading...