Vài tháng trước, một số chuyên gia đã tuyên bố rằng trật tự dầu mỏ cũ đã chết sau khi Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC không đạt được thỏa thuận phối hợp hành động trong cuộc họp vào tháng 4/2016 tại Doha, Qatar.

Cuộc họp dự định đề cập đến việc tạm ngừng sản xuất để ngăn chặn tình trạng xuống giá bắt đầu từ tháng 7/2014. Thế nhưng, hội nghị Doha đã phải kết thúc trước khi kịp bắt đầu. Iran từ chối giảm sản lượng cho đến khi nước này được trở lại vị trí đã có trong thị trường trước khi bị lệnh cấm vận, vì lý do này Ả Rập Saudi cũng đã hủy đóng băng và tiếp tục sản xuất ở mức cao nhất.

Tuần trước, với việc kinh doanh dầu mỏ duy trì ở mức cao trong 6 tháng, một lần nữa các thành viên OPEC lại có hy vọng vào sự hữu dụng của tổ chức này khi họ tụ họp tại thủ đô Vienna, Áo. Tuy nhiên, một lần nữa, cuộc họp kết thúc mà không có thỏa thuận nào cả, kết quả vẫn không thể thay đổi chính sách sản xuất hiện tại, về cơ bản là không có giới hạn.

Vì vậy, liêu đây có phải là phán quyết cho thấy OPEC đã đang chết đứng, báo hiệu sự kết thúc của một thời đại mà đế chế này có thể kiểm soát giá dầu một cách tàn nhẫn? Thực tế, thời kỳ đó cũng chưa từng tồn lại. Những cuộc họp thất bại đã xác nhận một sự thật lâu dài: OPEC – Một Các-ten kinh tế  nổi tiếng nhất trên thế giới chưa bao giờ thực sự là một Các-ten đúng nghĩa.

OPEC không phải là quan tòa của năng lượng toàn cầu, nó luôn là một tổ chức kém hoạt động, chia rẽ và thoái chí.

Nghiên cứu gần đây đã giúp tôi nhìn lại lịch sử của dầu mỏ, đặc biệt là mối quan hệ giữa doanh thu dầu mỏ, phát triển kinh tế và sự cân bằng địa chính trị trong những năm 1960 và 1970. Lịch sử dầu mỏ đã bị thống trị bởi một cuộc đấu tranh tìm trật tự cân bằng, một cuộc thi đấu giữa các bên cạnh tranh lợi ích, cả về kinh tế lẫn chính trị và giữa các tác nhân thị trường cơ bản của cung và cầu.

OPEC đã chưa bao giờ có thể thoát khỏi hay có thể ngăn chặn hoàn toàn sức mạnh của cung và cầu.

Khi tổ chức này được thành lập vào năm 1960, OPEC có sứ mệnh tạo một thể chế để các thành viên tiếng nói lớn hơn về phương pháp sản xuất dầu mỏ và việc định giá dầu, giải quyết sự bất cân xứng trong quyền lực được nắm giữ bởi các tập đoàn tư nhân phương Tây. Mục tiêu lớn hơn của nó là để mang lại trật tự cho thế giới đang bị hỗn loạn năng lượng toàn cầu, tuy nhiên mục tiêu này luôn khó nắm bắt.

OPEC đã được hình thành từ sự thất vọng. Trong những năm 1950, thế giới tràn ngập dầu mỏ khi các quốc gia nhỏ ở Trung Đông và Mỹ Latin phát hiện các mỏ dầu khổng lồ, và các công ty phương Tây tìm cách khai thác chúng để đáp ứng nhu cầu đang gia tăng.

Để tiếp cận những mỏ dầu này, các công ty dầu lớn (được gọi là “Seven Sisters” – nhóm Bảy Chị Em) đã ký thỏa thuận ưu đãi với chính quyền địa phương, cho phép họ khai thác, tinh chế, vận chuyển và kinh doanh trong thị trường dầu mỏ quốc gia để đổi lấy một khoản tiền, thường là 50% lợi nhuận.

Thỏa thuận này đã giúp các công ty này quyền kiểm soát dầu mỏ – họ thiết lập mức độ sản xuất và giá cả – trong khi đó, các chính phủ chỉ đơn giản lấy hóa đơn và rất ít tác động đến bất kỳ điều gì khác.

Vào tháng 2/1959, trong bối cảnh dư thừa dầu mỏ, Bảy Chị Em quyết định rằng điều chỉnh giá là cần thiết. Và do đó, họ bắt đầu đơn phương cắt giảm giá niêm yết, từ 2,08 USD xuống 1,8 USD vào tháng 8/1960. (Lúc đó, giá dầu không phải luôn theo các tác nhân thị trường mà thường được thiết lập bởi các nhà sản xuất).

Việc giảm giá là một mất mát đáng kể trong doanh thu của các quốc gia sản xuất dầu mỏ. Để phản đối nó, các Bộ trưởng dầu mỏ của Iraq, Iran, Venezuela, Ả Rập Saudi và Kuwait đã gặp nhau tại thủ đô Baghdad, Iraq vào tháng 9 và thành lập OPEC để đi đến một thỏa thuận công bằng hơn với Bảy Chị Em.

Trên thực tế, các quốc gia sản xuất dầu mỏ chỉ có lực tác động hạn chế nhằm ép buộc các công ty cung cấp điều kiện tốt hơn. Bảy Chị Em đã thống lĩnh thị trường toàn cầu và có khả năng đóng cửa từng nhà sản xuất riêng rẽ. Nguồn dầu mỏ dồi dào, và quốc hữu hóa xem ra không phải là câu trả lời vì các công ty này có thể tống cổ thành công một quốc gia vi phạm ra khỏi thị trường, như họ đã làm với Iran vào năm 1951.

Thêm vào đó, nước Mỹ chính là nhà sản xuất hàng đầu của thế giới và miễn dịch khỏi những cú sốc nguồn dự trữ này nhờ vào hạn ngạch nhập xuất. Nếu OPEC đe dọa ngừng sản xuất để gây áp lực lên các công ty, Mỹ có thể tăng lượng sản xuất của mình lên để tạo nên sự khác biệt, như họ đã làm trong cuộc tẩy chay không hoàn toàn dầu mỏ Ả Rập vào năm 1967.

Cuối cùng, OPEC đã không sở hữu đủ thị phần để làm được bất kỳ một tác động có ý nghĩa nào.

Sự cân bằng quyền lực mới

Bên cạnh việc tương đối bất lực, OPEC không thể đạt được thỏa thuận đi đến một chính sách nhất quán giữa các thành viên của mình. Ả Rập Saudi muốn giữ mức sản xuất thấp và giá cả phù hợp, duy trì hiện trạng nền kinh tế toàn cầu và hiện trạng chính trị. Iran và Iraq, với ngân sách quân sự và phát triển lớn, muốn đẩy giá càng cao càng tốt để tối đa hóa doanh thu.

Theo học giả và chuyên gia tư vấn dầu mỏ Ian Skeet, một nỗ lực để đạt được điều khoản có lợi hơn với liên minh Bảy Chị Em vào năm 1963 đã bị phá hoại bởi nhà vua của Iran, khi ông này muốn một thỏa thuận riêng.

Trong những năm 1960, OPEC đã gặp nhau, tranh luận và phát hành báo cáo hoành tráng về quyền lực của họ, nhưng họ đã thất bại trong việc hình thành một mặt trận thống nhất.

Tuy nhiên, những thay đổi đáng kể đã xảy ra vào thời điểm đó. Nhu cầu dầu mỏ gia tăng, trong khi đó sản xuất tại Hoa Kỳ đã bị đình trệ. Khả năng kiểm soát thị trường của Bảy Chị Em đã suy yếu bởi các đối thủ cạnh tranh quốc tế đang khoan những mỏ dầu mới ở Bắc Phi, nơi nhà lãnh đạo Libya Muammar Qaddafi đe dọa cắt đứt nguồn cung cấp nếu ông không nhận được giá cao hơn.

Các công ty dầu càng ngày càng chịu áp lực nhiều hơn để cung cấp các điều khoản có lợi cho các thành viên OPEC. Giá dầu, vốn ổn định ở mức 1,8 USD một thùng trong nhiều năm, đã bắt đầu tăng lên. Hạn ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ đã kết thúc, để lại một Hoa Kỳ dễ bị tổn thương bởi các cú sốc nguồn cung cấp do khả năng sản xuất của họ ngày càng giảm dần.

Những điều kiện này, tuy không phải là kết quả từ những hành động của OPEC, nhưng đã cho tổ chức này một cơ hội gây ảnh hưởng đến thị trường và phá vỡ cán cân quyền lực cố hữu.

Cách mạng giá dầu

Sự thay đổi này đã tăng nhanh trong những năm 1970 khi chiến tranh nổ ra giữa Israel và các nước Ả Rập láng giềng. Điều này tạo cho OPEC một cơ hội để giành quyền kiểm soát từ các công ty dầu phương Tây.

Để trừng phạt Hoa Kỳ vì đã ủng hộ nhà nước Do Thái Israel, các nhà sản xuất dầu mỏ Ả Rập (không phải là OPEC như hầu hết mọi người đều tin) đã giảm sản lượng và ra một lệnh cấm vận đối với Hoa Kỳ. Kết hợp với chiến tranh, điều này gây ra bất ổn thị trường năng lượng khi cầu vượt quá cung.

Giữa cuộc chiến, OPEC đã gặp Bảy Chị Em ở Geneva, Thụy Sĩ và yêu cầu tăng giá niêm yết dầu mỏ. Sau khi loại đi một thay đổi nhỏ, OPEC tuyên bố sẽ tăng gấp đôi giá dầu mỏ đến 5 USD/thùng và sau đó tăng gấp đôi một lần nữa đến 11,65 USD/thùng.

Việc này kích hoạt một sự thay đổi rộng lớn trong cán cân quyền lực kinh tế, điều mà giáo sư Steven Schneider của đại học Stanford gọi là “sự điều chuyển của cải phi bạo lực vĩ đại nhất trong lịch sử loài người”. Với nguồn tiền đổ về từ doanh thu bán dầu, các quốc gia OPEC đã mạnh tay đầu tư vào phát triển kinh té, các chương trình xã hội và cả các ngành công nghiệp ở phương Tây đồng thời quốc hữu hóa liên tục các doanh nghiệp trong nước, đẩy lùi ảnh hưởng của Bảy Chị Em.

Làm thế nào mà cán cân quyền lực lại thay đổi đột ngột đến như vậy? Cùng với những lý do khác, một nguyên nhân quan trọng là các công ty dầu mỏ lớn nhất không thể đi đến thỏa thuận về một mức giá mới và đã thực sự bị lợi nhuận cao cám dỗ. Nói cách khác, OPEC đã nắm quyền kiểm soát thị trường dầu mỏ chủ yếu là do những sự việc ngoài tầm kiểm soát của họ.

Cuộc khủng hoảng dầu mỏ

Mặc dù chiến thắng, OPEC đã không thể tiến gần hơn trong việc giải quyết chia rẽ nội bộ của mình. Điều này trở nên rõ ràng khi một cuộc khủng hoảng năng lượng khác đến.

Vào tháng 1/1979, nhà vua Iran chạy trốn khi cuộc cách mạng diễn ra, và các thị trường dầu mỏ thế giới trở nên hoang mang. Giá dầu mỏ tăng mạnh từ 12,7 USD đến hơn 30 USD vào năm 1980. Với việc 6 triệu thùng dầu mỏ mỗi ngày của Iran đã biến mất, các nước OPEC khác hăm hở nắm lấy cơ hội này để bán dầu mỏ với khoản lợi nhuận thêm quý giá, thậm chí còn đẩy giá lên đến cao hơn.

Trong những năm sau đó, Ả Rập Saudi đã cố gắng áp dụng một hệ thống hạn ngạch, giới hạn số lượng tổng thể ở mức 20 triệu thùng dầu mỗi ngày. Nhưng hầu hết các thành viên đều bỏ qua hạn ngạch và sản xuất vược mức để đạt được doanh thu cao hơn.

Trong khi đó, phương Tây luôn tìm cách cải thiện hiệu suất năng lượng và đầu tư mạnh vào những nguồn dầu không phải của OPEC, gồm Alaska, Canada, và Biển Bắc. Đến năm 1985, thị phần của OPEC đã giảm xuống dưới 30%. OPEC giảm hạn ngạch sản xuất xuống 19 triệu thùng dầu/ngày, sau đó là 17 triệu, vì tính đến việc nhu cầu đang giảm bớt; nhưng chỉ Ả Rập Saudi tuân theo các quy tắc trên, điều này làm họ mất thị phần do các nhà sản xuất khác đang khai thác dầu mỏ vượt quá hạn ngạch.

Tới năm 1986, Ả Rập Saudi quyết định rằng họ đã chịu đựng đủ. Không cần báo trước, Bộ trưởng dầu mỏ Ả Rập Saudi thông báo rằng Ả Rập Saudi sẽ tăng sản lượng sản xuất. Qua một đêm, sản lượng của Ả Rập Saudi tăng lên hơn 2 triệu thùng dầu mỗi ngày, làm thị trường ngập lụt và đẩy giá giảm xuống dưới 10 USD/thùng. Cảm thấy chán nản vì các thành viên OPEC khác đã lừa họ làm lợi nhuận giảm xuống, Ả Rập Saudi đã chọn thúc đẩy những luật mới bằng một cú sốc thị trường nhân tạo.

Giống như điều vương quốc này từng làm vào năm 2014, động thái này cho thấy Ả Rập Saudi sẵn sàng sử dụng trữ lượng dầu mỏ khổng lồ của mình để “sửa chữa” thị trường và đẩy lùi các nhà sản xuất chi phí cao, thậm chí là các đồng minh OPEC của chính họ.

Nếm quả đắng

Vận may của OPEC đã lung lay kể từ cú sốc năm 1986. Việc hợp tác giữa các thành viên vẫn còn là điều khó thực hiện.

Một cuộc họp năm 2011, được gán cho cái tên “tồi tệ nhất” bởi Bộ trưởng dầu mỏ Ả Rập Saudi vừa mới bị cách chức, chỉ cho kết quả là một sự bất đồng về mức sản xuất. Mâu thuẫn bao trùm khi các quốc gia OPEC phớt lờ lời kêu gọi đa dạng hóa kinh tế thiên về tăng trưởng kinh tế dầu nhiên liệu.

Giá cao trong đầu những năm 2000 đã đem lại sự bùng nổ doanh thu dầu mỏ cho các thành viên OPEC. Đối với Venezuela và Nigeria, dầu chiếm hơn 90% lượng hàng xuất khẩu. Hầu hết các quốc gia OPEC tin rằng nhu cầu cao sẽ kéo dài mãi mãi, giá cao có thể thu thập tiền cho các chương trình chính phủ và quãng thời gian tốt đẹp sẽ không bao giờ kết thúc.

Tuy nhiên, khoảng thời gian tốt đẹp đó đã thực sự chấm dứt. OPEC đã không thể kiểm soát vòng xoáy giảm giá, bắt đầu bởi Ả Rập Saudi vào tháng 11/2014 khi nước này làm ngập thị trường với dầu thô giá rẻ và  đẩy những đối thủ cạnh tranh mới và cũ – những nhà sản xuất Hoa Kỳ và Iran – bên bờ phá sản. Ả Rập Saudi duy trì đường lối theo đuổi lợi ích chính trị và thị phần hiện có của mình, để mặc các thành viên OPEC khác để tự bảo vệ mình.

Cái chết của OPEC đã được báo trước, sự suy giảm dài hạn của nó dường như đã được cam đoan trong khi năng lượng toàn cầu bước vào một kỷ nguyên mới.

Cụ thể là Ả Rập Saudi có thể sẽ nổi bật lên từ cuộc khủng khoảng hiện tại mà không bị tổn thương, tự do bắt bay vào kế hoạch được thông báo gần đây là Vision 2030 (Tầm nhìn 2030) xây dựng một nền kinh tế “ít phụ thuộc vào dầu mỏ” hơn, mặc dầu kế hoạch này hơi mơ hồ. Có thể OPEC sẽ thành công trong việc phối hợp hành động trong tương lai. Nhưng những thất bại gần đây cho thấy rằng nhưng lợi ích chính trị sẽ có nhiều khả năng sẽ gây chia rẽ OPEC và ngăn chặn đạt được lợi ích chung từ sự đoàn kết của mỗi thành viên.

Tác giả: Gregory Brew là một nghiên cứu sinh lịch sử, năng lượng và đối ngoại tại Đại học Georgetown. Bài viết này được công bố lần đầu trên The Conversation.

Minh Đạo dịch

Xem thêm:

Clip hay:



Advertising:

loading...

Các Bài Viết Liên Quan