Vào ngày 23/5, Hoa Kỳ đã thực hiện một động thái ngoại giao tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhằm tăng cường phát triển khối liên minh chống lại Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), gia tăng tầm ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực, và mở rộng số lượng các quốc gia xung quanh Trung Quốc đang chuyển hướng khỏi trạng thái không hành động và duy trì hòa bình.

Phản ứng của ĐCSTQ là chào đón động thái này, và tuyên bố đó là một sự tiến triển lành mạnh cho thế giới.

Có gì không ổn ở đây? Phản ứng này của ĐCSTQ dường như không theo lẽ thường, lý do là vì lợi ích họ đạt được sau động thái này còn thâm sâu hơn.

Động thái gây tranh cãi là khi Tổng thống Barack Obama hủy bỏ lệnh cấm bán vũ khí được áp dụng lên Việt Nam trong nhiều thập niên qua. Theo hãng thông tấn AP, ông đã gặp Chủ tịch nước Trần Đại Quang và đưa ra tuyên bố: “Sự thay đổi này sẽ đảm bảo rằng Việt Nam có quyền tiếp cận đến các trang thiết bị cần thiết để bảo vệ chính mình và loại bỏ vết tích còn lại của cuộc Chiến tranh Lạnh”.

Đáp lại động thái này, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung quốc Hoa Xuân Ánh cho biết, theo một bản dịch, rằng Trung Quốc cảm thấy “vui khi thấy Việt Nam bình thường hóa quan hệ với tất cả các nước, gồm cả Hoa Kỳ”.

Đó là tất cả phản ứng của ĐCSTQ – dù là thông qua người phát ngôn Bộ Ngoại giao hay truyền thông nhà nước – tất cả đều được quản lý chặt chẽ, và với một số động thái có quy mô lớn cỡ này, cũng đã được tính toán chặt chẽ.

ĐCSTQ có vẻ như đã suy xét rằng họ sẽ có lợi hơn khi ủng hộ động thái này thay vì chỉ trích. Và lợi ích tiềm tàng là hành động này có thể làm bàn đạp bắt đầu vận động Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu bỏ lệnh cấm vận vũ khí tương tự đối với Trung Quốc – lệnh cấm được ban hành sau vụ thảm sát tại quảng trường Thiên An Môn năm 1989.

Chính quyền Trung Quốc luôn khăng khăng quan điểm trong quan hệ ngoại giao rằng không nên đề cập đến vấn đề nhân quyền trong chính trị. Chính sách này đã cho phép Trung Quốc liên minh với một số chế độ chuyên quyền nhất trên thế giới và xây dựng khối liên minh của riêng mình – những nước mà Hoa Kỳ và EU từ chối kết thân.

Điều này khiến ĐCSTQ bị chỉ trích mạnh mẽ, vì sự ủng hộ của họ đối với các nước như Bắc Triều Tiên đã cho phép chính quyền các nước này duy trì quyền lực của mình mà không bị sụp đổ.

Điều thú vị là, cơ quan tuyên truyền của ĐCSTQ dường như đã đánh giá rằng lợi ích đem lại từ một phản ứng thầm lặng có giá trị hơn so với những lời chỉ trích – đặc biệt kể từ khi xuất hiện làn sóng chống Trung Quốc tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Bản thân thỏa thuận này có tính biểu tượng hơn bất cứ điều gì. Thỏa thuận này không có ảnh hưởng nhiều trên phương diện sức mạnh quân sự của Việt Nam nhưng lại có tác động lớn trong việc Việt Nam được nhìn nhận thế nào trên chính trường quốc tế.

Trước đây, Việt Nam mua xe và thiết bị quân sự từ Nga, và sự thay đổi trong lập trường của Hoa Kỳ không thể khiến Việt Nam trở thành một mối đe dọa quân sự đối với Trung Quốc nhiều hơn hiện tại. Việt Nam có số lượng quân nhân nhiều hơn Hoa Kỳ, gần nửa triệu tại ngũ và ba triệu lực lượng dự bị.

Nhưng nếu lịch sử cận đại có thể nói với chúng ta điều gì đó, thì đó là ĐCSTQ đang xem thỏa thuận mới này như một mối đe dọa và họ đang im lặng. Khi Hoa Kỳ bắt đầu nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam vào năm 2014, công cụ phát ngôn của ĐCSTQ, tờ Nhân Dân Nhật Báo đã chỉ trích thỏa thuận này và cáo buộc sự can thiệp của Mỹ nhằm “cân bằng quyền lực trong khu vực”.

“Cân bằng quyền lực trong khu vực” là điều mà thỏa thuận mới này có thể gây ảnh hưởng nhiều nhất. Cách Hoa Kỳ nhìn nhận Việt Nam đã thay đổi, và điều này cũng có thể giúp Việt Nam mở rộng quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác. Như tờ Japan Times đưa tin, nó sẽ làm giảm sự “nhạy cảm chính trị” mà các quốc gia khác phải đối mặt khi tăng cường quan hệ với Việt Nam.

Joshua Philipp, Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh
Minh Đạo biên dịch

Clip hay:



Advertising:

loading...

Các Bài Viết Liên Quan