Vào năm Hồng Đức thứ 15, một vị quan dưới thời Trần Nhân Tông – có tên là Thân Nhân Trung, đã để lại trên văn bia một câu nói nổi tiếng, mà học trò trên giải đất hình chữ S qua các thời từ đó trở về sau thường được nhắc lại: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

1. Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

Cái lẽ thịnh suy của bất kỳ một đế chế, hay vương triều nào trong lịch sử cũng nằm ở con người. Nhân tài hội tụ là điềm phúc của quốc gia. Chính vì lẽ này mà trong triều đại, có nhiều vị vua kém tài, kém cả đức, nhưng nhờ vào việc trọng dụng hiền tài, chiêu hiền đãi sĩ, không ngần ngại khoản đãi trí giả thập phương để gây dựng đại cơ đồ. Lịch sử Á Đông nổi bật với chuyện một gã lưu manh áo vải, quen thói lêu lổng tụ tập lưu manh ở nơi chợ búa gầy dựng cơ nghiệp Đại Hán trên một lãnh thổ cực kỳ rộng lớn – Lưu Bang. Hay Minh Trị Thiên Hoàng, nhìn ra vấn đề của Mạc Phủ Tokugawa không thể giúp ông đương đầu với cường quốc quân sự và thương mại từ phương Tây, mà lạnh lùng nhìn quốc gia trải qua cơn nồi da xáo thịt ngắn ngủi – huynh đệ tương tàn giữa nhóm thủ cựu và phe cải cách; để sau đó nước Nhật trỗi dậy toàn diện về quân sự và kinh tế cho tới Đệ Nhị Thế Chiến.

Việt Nam trong lịch sử, dẫu là một tiểu quốc chư hầu cực Nam Trung Hoa, nhưng mỗi lần toan tính dấy binh chinh phạt, các Hoàng Đế phương Bắc không bao giờ ngừng suy xét rằng liệu Đại Việt còn nhân tài hay không. Nhìn sao Khuê trên trời mà biết thế nước thịnh hay suy. Chuyện này dẫu đúng hay sai thì cũng rõ ràng cho thấy một sự thực: nếu không có những Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi… Việt Nam có thể đã không thể bảo tồn văn hóa và tồn tại trước một đế chế quá lớn mạnh như Trung Hoa trong suốt chiều dài 5000 năm lịch sử.

Các quốc gia đều có lịch sử tương tự như vậy, việc đào tạo nhân tài và giữ chân nhân tài ở lại chính là việc “sống còn” của bất kỳ một quốc gia nào. Cũng theo lẽ đó, vấn đề tài năng rời đi nơi khác làm việc và sinh sống là vấn đề toàn cầu, bao gồm cả các nước đang phát triển như Việt Nam, Venezuela, hay tới những quốc gia phát triển như Anh, Úc, Hoa Kỳ…

2. Cuộc chiến giữ chân nhân tài

Vào thời khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, cả thế giới chứng kiến một sự biến động chưa từng thấy từ hồi cuộc Đại khủng hoảng năm 1929 bắt đầu bằng việc sụp đổ của thị trường chứng khoán phố Wall, đó là việc rất nhiều lao động chất lượng cao rời khỏi Hoa Kỳ và các nhà đầu tư lớn chuyển khối tài sản của mình sang các quốc gia khác có ưu đãi về thuế như Singapore, Ireland. Tức là nhân tài cũng rời đi khỏi những quốc gia hàng đầu như Nhật Bản, Anh, Úc, Hoa Kỳ, hay Âu châu để tìm tới những nơi khác có sức hấp dẫn hơn. Người Việt Nam thường hay gọi đó là “chảy máu chất xám” và người Anglosphere thì dùng hai chữ Brain Drain để nói về hiện tượng này– thiển dịch là “não chạy”.

Nhưng vào ngày 22/8 vừa qua, ký giả Christopher Woody của tờ Businessinsider cho biết cứ 27% người có bằng PhD từ Mexico thì lại đang làm việc ở Mỹ. Lý do rất đơn giản: tiền bạc, ổn định chính trị, và sự an toàn. Lương giáo sư ở Đại học Texas, Austin cao gấp 4 lần lương của một vị trí tương tự ở những đại học tốt nhất ở Mexico. Người Mexico đều thấy rõ, là chính quyền chỉ chi ra chưa tới 0.40% GDP cho nghiên cứu và phát triển, trong khi nếu so sánh với Hàn Quốc và Hoa Kỳ lần lượt là 3.45% và 2.68%. Cơ sở hạ tầng, phương tiện hỗ trợ và môi trường nghiên cứu rõ ràng là tốt hơn hẳn.

Giới học giả ở Mexico nhìn nhận rằng Hoa Kỳ đang hưởng lợi từ nỗ lực cải thiện giáo dục của quốc gia này trong nhiều năm qua. Nhà khoa học hàng đầu thế giới về miễn dịch và dịch tễ học ở Bộ Y Tế nước này, Clara Gorodezky nói: “Chúng tôi chẳng có gì cả. Tôi là người ăn xin chuyên nghiệp ở đây.” Những khoa học gia bỏ sang Hoa Kỳ, cũng mang theo rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học có giá trị đều lọt vào tay người Mỹ.

Venezuela sau nhiều năm trả giá cho việc quốc hữu hóa tài sản doanh nghiệp và tập trung vào các công ty quốc doanh, các bác sĩ tốt nhất ở đây than phiền rằng họ không thể tìm thấy việc làm. Số khác thì nói rằng rất khó để nuôi dạy bọn trẻ. 5% trong số 30 triệu người dân rời khỏi đất nước, đa phần trong số đó là những chuyên gia y tế. Các công ty “săn đầu người” ngay lập tức vào cuộc, đưa những người này tới những vị trí béo bở ở quốc gia khác.

Tình hình Cuba có khá hơn, nhưng là khá hơn đối với những người muốn rời khỏi quốc gia này. Năm 2003, có một chương trình hợp tác giữa Venezuela và Cuba, tên là Bario Adentro nhằm mở các phòng khám miễn phí ở vùng nông thôn kém phát triển. Phía Cuba sẽ cung cấp các nhân viên và chuyên gia y tế, còn Venezuela cung cấp dầu thô và tiền mặt cho Cuba. Những nhân viên này, theo quan sát, thường bỏ trốn sau khi sang được Venezuela và tìm cách chạy sang Columbia, lúc đó đang có chương trình Bác Sĩ Tự Do Cuba của Hoa Kỳ. Nếu tham gia chương trình này, những nhân viên này sẽ được đưa tới Hoa Kỳ.

Chưa hết, vấn đề ở Hoa Kỳ cũng trở nên rắc rối. Các công ty luôn tìm cách giữ chân nhân tài, đặc biệt là ở thung lũng Silicon Valley. Nhưng vấn đề tới từ chính các công ty Startups xuất hiện ngày càng nhiều, cạnh tranh về tài năng vốn đã rất khốc liệt. Trước đây, giới công nghệ ít khi quan tâm tới việc kỹ sư Microsoft bỏ về làm việc cho Google, nhưng bây giờ chỉ cần một vài kỹ sư quan trọng chuyển sang làm cho các startups thì đã đẩy giá trị vốn hóa của các công ty này lên đáng kể. Các ông lớn như Google, Microsoft, và Apple cũng nhìn ra được áp lực loại này có tính đe dọa rất lớn.

Thành ra họ bèn lobby cho các nhà lập pháp, nhằm tăng số lượng chấp nhận hồ sơ H1B visa, tức là visa làm việc chứ chưa thể nhập cư, thay vì hỗ trợ cho các trường hợp muốn đăng ký làm thường trú nhân. Bằng cách này, những cá nhân nộp visa H1B thường không dám mạnh dạn nộp hồ sơ xin bảo lãnh ở các công ty khác, đồng thời làm việc cật lực cho công ty bảo trợ để có thể hội đủ điều kiện đăng ký thường trú sau vài năm làm việc. Như vậy, họ có thể lợi dụng cộng đồng du học sinh, đặc biệt là từ những quốc gia Á châu, học các ngành STEM (Science, Technology, Engineer, Medical) qua việc trả lương thấp hơn và có sự gắn bó đối với công việc cao hơn so với những nhân viên đã là công dân Mỹ hoặc là thường trú nhân.

Các quốc gia Á châu cũng thấy được sức ép này, khi những hạt giống tốt nhất đào tạo từ trong nước lũ lượt dứt áo ra đi, không tới một quốc gia Âu Mỹ, thì cũng tới những nơi khác có môi trường tốt hơn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore. Trung Quốc ngay lập tức thay đổi chính sách, chào đón nhân tài thông qua những hợp đồng tuyển dụng lương rất cao, nhà ở, và cơ sở hạ tầng phục vụ cho nghiên cứu, chỉ riêng năm 2011 đã có tới 186,000 sinh viên học xong quay về lại Trung Quốc làm việc, tăng hơn 40% so với năm 2010.

Hàn Quốc liền tăng mạnh mức chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển trong các năm gần đây, tránh việc nhân tài bỏ sang các quốc gia khác. Riêng chi tiêu cho khoản này đã chiếm tới 4.36% vào năm 2014, chỉ sau Israel 4.38%. Tuy vậy, vào năm 2014, tờ Koreantimes có bài báo về xu hướng Đại Hàn đang mất đi rất nhiều nhân tài và cảnh báo về tình trạng thiếu sự đầu tư vào môi trường nghiên cứu.

Năm 2013, Israel bắt đầu một chương trình kêu gọi người Israel trở về nước, đặc biệt là các chuyên gia công nghệ, khoa học gia hàng đầu thông qua chương trình Israel Brain Gain Program. Các chuyên gia ở Mỹ sẽ được tiếp cận, liên lạc và chào mời những vị trí có lương rất cao, cùng các phúc lợi khác, từ ngân sách khổng lồ giành cho việc phục quốc của người Do Thái. Chưa hết, các sinh viên, học sinh có nguồn gốc Do Thái khác dù ở bất kỳ quốc gia nào, có thành tích học tập xuất sắc, cũng được mời gọi trở về Israel cùng các ưu đãi cho cả gia đình về nhà ở, việc làm và phúc lợi xã hội.

Qatar, Dubai, Yemen, và Arab Saudi cũng không đứng ngoài xu thế đó. Những xứ sở này mạnh dạn chi tiêu rất nhiều trong các năm gần đây, mời gọi các chuyên gia từ khắp các nơi, bất kể sắc tộc, màu da đến Trung Đông sinh sống và làm việc. Thú vị là có một nhà khoa học nổi tiếng của Việt Nam, hiện đang công tác tại viện nghiên cứu Y Khoa Garvan tại tiểu bang New South Wales, Úc, đã có chia sẻ dài kỳ về chuyến được mời đi thăm một trường đại học ở Trung Đông, là King Abdilaziz University. Trong các buổi chiêu đãi tại nơi này, đồng sự của ông đã có những lời mời gọi thẳng thừng vị giáo sư khả kính gốc Việt này chuyển sang Ả Rập làm việc. Chuyện của Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn, kỳ thực không hề hiếm.

3. Phần kết

Xin nhắc lại chuyện về Adam Smith – người được giới học thuật mệnh danh là cha đẻ của kinh tế học, trong quyển Nguyên Nhân Quốc Gia Thịnh Vượng (The Wealth Of Nations), đã nhấn mạnh rằng tầm quan trọng của việc phân chia lao động, và việc sử dụng tốt sức lao động tiềm tàng có thể tạo ra thặng dư xã hội và chuyển dịch tài sản từ người giàu sang các thành phần nghèo hơn trong xã hội. Nói nôm na, rằng tài năng và sức lao động cũng chính là nguồn gốc của sự thịnh vượng của quốc gia. Ý tưởng này xuyên suốt tác phẩm để đời của ông; mà ít ai biết, Adam Smith chuyên nghiên cứu về triết học và đạo đức xã hội. Theo góc nhìn của ông, đạo đức và sự quân bình của xã hội chỉ thực sự bền vững khi có hệ thống sử dụng lao động hiệu quả. Nói theo người Á Đông, thì “Phú Quý mới sinh lễ nghĩa”,  và “bần cùng sinh đạo tặc.”

Nhân tài ra đi, cũng có nghĩa là cơ hội của quốc gia thịnh vượng cũng mất đi. Hơn thế nữa, thị trường tự do cung cầu qua hàng trăm năm hiểu rõ chi phí và lợi ích của việc thâu nhận nhân tài. Trong một thế giới phẳng, nhân tài không của riêng quốc gia nào; không tận dụng tốt, thì rất dễ bị người khác lấy mất. Tại sao Hoa Kỳ tính tới hiện nay, dù ngật ngưỡng bước ra từ vụ tổng suy trầm năm 2008 vẫn thu hút rất nhiều nhân tài chất lượng cao từ các quốc gia phát triển? Là bởi vì sức sáng tạo tiềm tàng trong thị trường lao động cực kỳ lớn, khả năng thích nghi, thay đổi, chấp nhận rủi ro và huy động vốn trở nên vô tận, tạo sức mạnh để quốc gia này có thể đương đầu với những biến cố lớn như thiên tai, tài chính, hay quân sự.

Rõ ràng, hàng bao năm nay vẫn đang có một cuộc chiến khác không tiếng súng, mà chỉ có tiếng gõ cửa! Gõ cửa nhà nhân tài.

Người Hoa thường nhắc nhau chuyện Hạng Vũ và Lưu Bang tranh nhau Hàn Tín. Lưu Bang xuất thân quê mùa, vô học, chỉ có thể dựa vào Tiêu Hà, Trương Lương để lo việc xã tắc. Nhưng cơ đồ còn sơ khởi, quân lực còn chưa mạnh, tài cầm quân lại không có. Lúc đó Hàn Tín về đầu quân làm lính cho Lưu Bang, Tiêu Hà thấy tài mà tiến cử, Hàn Tín tung hoành khắp cõi, cầm quân trăm vạn, dẹp tan quân Sở Bá Vương Hạng Vũ mà mang giang sơn về cho Lưu Bang.

Chuyện nhân tài nước Việt, về hay ở tưởng là chuyện nhỏ, người thông cảm cho thanh niên tuổi trẻ thì bảo đừng về, người sĩ diện có thể khoát tay nói không cần; nhưng nếu nhìn ở một giác độ khác, về hay ở của nhân tài lại có tính trọng yếu đối với vận mệnh của quốc gia – nhất là trong thời đại điện tử, nhân lực công nghệ cao ở các ngành nghề như điện tử, khoa học, công nghệ hay y tế là yếu tố quyết định sức mạnh kinh tế, an ninh và quân sự. Không thể không suy xét thận trọng về lâu dài.

Trong bối cảnh như vậy, xin gấp tấm bản đồ thế giới, và tạm quên đi các con số nhức đầu. Việt Nam chúng ta ở đâu? Thành bại của chúng ta, quan trọng là chúng ta đặt tầm quan trọng của việc này ở mức độ như thế nào.

Hồng Ân

Bài viết thể hiện quan điểm của chính tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đại Kỷ Nguyên Thời báo.

Xem thêm:

Clip hay:



Advertising:

loading...

Các Bài Viết Liên Quan