Học viện Chính sách và Phát triển (Bộ Kế hoạch – Đầu tư) mới công bố “Đánh giá tổng quát về mức độ an toàn của nợ công hiện nay”, nghiên cứu cho rằng: Rủi ro vỡ nợ thấp và mức độ an toàn nợ công là “không bền vững” do khả năng trả nợ từ nguồn thu NSNN còn hạn chế và nợ công còn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Phạm vi tính toán nợ công của Việt Nam chưa đầy đủ

Thgeo Luật Quản lý nợ công 2009, thì nợ công mới chỉ bao gồm nợ của Chính phủ, nợ được bảo lãnh Chính phủ và nợ của chính quyền địa phương. Theo Học viện thì “Phạm vi xác định nợ công” chưa tính đầy đủ một số khoản nợ có bản chất là nợ công, làm ảnh hưởng nhỏ số nợ thực tế.

Trưởng khoa Tài chính Tiền tệ, Học Viện Chính sách và Phát triển – TS. Nguyễn Thạc Hoát cho rằng, nếu tính toàn bộ nợ phải trả của khu vực DNNN vào nợ công thì tính thừa vì bị trùng lặp với phần đã được Chính phủ bảo lãnh.

Nhưng nếu không tính nợ của khu vực DNNN thì thiếu, vì nó có bản chất nợ công và các khoản nợ xấu mất khả năng thanh toán mà Nhà nước phải trả thay sẽ chuyển thành nợ công. Vì vậy cần tính vào nợ công số nợ mà DNNN không có khả năng thanh toán, buộc Chính phủ phải có nghĩa vụ thanh toán thay và các khoản nợ ngầm định khác.

Cũng không tính vào nợ công các khoản nợ phải trả của Ngân hàng CSXH và Ngân hàng Phát triển Việt Nam, vì các tổ chức này hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán.

Còn đối với nợ của tổ chức bảo hiểm và an sinh xã hội, hiện quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH) và quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) còn kết dư nên chưa phát sinh nợ vay. Khi quỹ BHXH, BHYT mất cân đối thu chi dẫn đến phải vay nợ để chi trả bảo hiểm thì Chính phủ phải đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cuối cùng nếu các tổ chức này không trả được nợ. Do đó,về bản chất nợ của các tổ chức BHXH, BHYT cần được tính vào nợ công.

Như vậy, nếu tính tất cả các khoản này theo đề xuất của nhóm nghiên cứu thì nợ công của Việt Nam năm 2013 sẽ là 2.198.000 tỷ đồng, bằng 61,28% GDP, trong khi nếu tính theo Luật QLNC 2009 chỉ là 1.942.000 tỷ đồng, bằng 54,2% GDP. Năm 2014, nợ công tính theo Luật QLNC 2009 là 59,9% GDP, tính theo nhóm nghiên cứu sẽ phải là 66,4%.

Theo báo cáo của Học viện, ở Việt Nam, những báo cáo của các cơ quan quản lý về nợ công chỉ công bố chỉ tiêu “nghĩa vụ trả nợ Chính phủ/Tổng thu ngân sách”, mà không công bố chỉ tiêu “nghĩa vụ trả nợ công/Tổng thu ngân sách”, dẫn đến kết quả đánh giá mức độ rủi ro trả nợ công chưa đầy đủ.

Do đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất hệ thống các tiêu chí dùng để đánh giá mức độ an toàn nợ công đó là: khả năng trả nợ bằng nguồn thu ngân sách (tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ công so với tổng thu ngân sách hàng năm); mức độ bội thu hoặc bội chi ngân sách hàng năm; tỷ lệ nợ công/GDP và các tiêu chí khác như: chất lượng và rủi ro nợ công; mức độ 5 chỉ tiêu an toàn nợ nước ngoài theo tiêu chí của IMF/WB; hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển; hệ số tín nhiệm của quốc gia…

Rủi ro vỡ chưa lớn nhưng mức độ an toàn là không bền vững

Về mức độ an toàn của nợ công, nghiên cứu cho rằng: Rủi ro vỡ nợ chưa lớn, nhưng an toàn nợ công là “không bền vững” do khả năng trả nợ từ nguồn thu ngân sách Nhà nước còn hạn chế và nợ công còn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Nợ vay nước ngoài năm 2013 chiếm 49%, năm 2014 chiếm 46%, có tỉ trọng thấp hơn nợ vay trong nước, nợ nước ngoài có xu hướng giảm.

Bù lại thì nợ vay trong nước có tỉ trọng cao hơn nợ vay nước ngoài và xu hướng tăng: năm 2013 chiếm 51%; năm 2014 chiếm 54%. Nợ vay trong nước thì kỳ hạn ngắn hơn, lãi suất cao hơn.

Về khả năng trả nợ chưa bền vững: Nghĩa vụ trả nợ trên tổng thu ngân sách ngày càng lớn, năm 2013 là 33%, năm 2014 là 38%, năm 2015 là 45%. Nghĩa là gần ½ số thu ngân sách chỉ để trả nợ. Bội chi ngân sách liên tục 10 năm, bình quân 2006 – 2015 ở mức 5,43% GDP. Và nguy hiểm là bội chi lớn hơn chi đầu tư phát triển; Chi thường xuyên lớn hơn thu từ Thuế, phí và lệ phí…

Giải pháp gì cho nợ công của Việt Nam 2015-2020?

Kết quả kiểm định từ mô hình kinh tế lượng về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế Việt Nam, nhóm nghiên cứu đề xuất ngưỡng nợ công phù hợp bình quân giai đoạn 2015 – 2020 là 68 – 70% GDP, đã bao gồm cả nợ của đoanh nghiệp như nói trên, ngưỡng đó là tỷ lệ đòn bẩy tài chính hiệu quả của Việt Nam, đảm bảo tính bền vững của chính sách tài khóa và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.

Nếu vượt qua đó hầu hết nguồn thu ngân sách, sản lượng tạo ra phải dùng để trả nợ, làm giảm nguồn vốn cho đầu tư phát triển, không tạo ra động lực mới để tăng trưởng. Ngưỡng nợ công nói trên càng cao thì tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ trên tổng thu ngân sách càng lớn, làm giảm sự bền vững của nợ công. Nếu ngưỡng nợ công nhỏ hơn đề xuất nói trên thì làm mất cơ hội sử dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính quốc gia để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Đồng thời cần phải chú trọng đầu tư công hiệu quả, tránh dàn trải, lãng phí, đầu tư không hiệu quả kiểu như xây Tháp truyền hình cao nhất thế giới; xây tượng đài 1.400 tỷ ở Sơn la và dự kiến sẽ xây hàng chục công trình tương tự ở các tỉnh khác; xây khu phức hợp hành chính các tỉnh to rộng như cung điện…

Thành Long

Xem thêm:

Clip hay:



Advertising:

loading...
Từ Khóa: Thể Loại: Kinh tế

Các Bài Viết Liên Quan