Sáu năm liên tiếp hạt tiêu của Việt Nam đang giữ vững vị trí số 1 về sản lượng và số lượng xuất khẩu trên thế giới. Năm 2014 lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu đạt 1,2 tỷ USD.

Điều đáng nói là hiệu quả trồng cây tiêu cao hơn so với các cây công nghiệp dài ngày khác như chè, cà phê, cao su, điều… tăng thu nhập cho người dân khu vực nông thôn ở nhiều vùng khó khăn như Tây Nguyên, Đông Nam bộ.

Xuất khẩu 95% sản lượng, đạt 1,2 tỷ USD

Năm 2014, sản lượng XK đạt 156.000 tấn, kim ngạch đạt 1,205 tỷ USD, tăng 17% về lượng và tăng 35,5 % về giá trị so với năm 2013.

Năm 2013, sản lượng XK đạt 134.000 tấn, kim ngạch đạt 899 triệu USD, tăng 15% về lượng và tăng 3% về giá trị so với năm 2012.

Năm 2012, sản lượng XK đạt 119.000 tấn, kim ngạch đạt 808 triệu USD.

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, hiện nay có khoảng 95% sản lượng hồ tiêu sản xuất trong nước để xuất khẩu đến hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ, còn lại 5% là tiêu thụ trong nước. Việt Nam có khoảng 15 doanh nghiệp XK hồ tiêu ở vị trí đầu thế giới, chiếm trên 50% thị phần xuất khẩu.

Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu tiêu số 1 của Việt Nam, với kim ngạch liên tiếp đạt mức tăng trưởng cao. Tiếp theo là thị trường Đức, EU, ASEAN…

Liên tục 6 năm qua, giá bán tiêu của nông dân trong nước năm sau luôn cao hơn năm trước. Cụ thể, giá tiêu nội địa bình quân năm 2009 là 30.000 đồng/kg, năm 2010 lên 50.000 đồng/kg, năm 2011 lên 120.000 đồng/kg , năm 2012 là 130.000 đồng/kg, năm 2013 là 140.000 đồng/kg, năm 2014 là 154.000 đồng/kg.

Tại Hội nghị Hồ tiêu Quốc tế (IPC) lần thứ 42 được tổ chức ở Sài Gòn từ ngày 27-30/10/2014, đã khẳng định vị thế hồ tiêu Việt Nam bằng việc giữ vững kỷ lục sản xuất và xuất khẩu thế giới suốt 14 năm liền. Ngành hàng hồ tiêu Việt Nam đã có những bước tiến dài trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế quốc gia và tăng thu nhập cho người dân khu vực nông thôn ở nhiều vùng khó khăn như Tây Nguyên, Đông Nam bộ.

Hạt tiêu hiệu quả hơn cây công nghiệp khác

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, năm 2014 về diện tích trồng, sản lượng và giá trị xuất khẩu của một số cây công nghiệp như sau:

Cây chè, diện tích 132.100 ha, sản lượng 962.500 tấn, kim ngạch XK 227 triệu USD,

Cây cà phê, diện tích 641.700 ha, sản lượng 1,395 triệu tấn, kim ngạch XK 3,553 tỷ USD,

Cây Điều, diện tích 298.400 ha, sản lượng 344.900 tấn, kim ngạch XK 2 tỷ USD

Cây tiêu, diện tích 83.800 ha, sản lượng 156.000 tấn, kim ngạch XK 1,2 tỷ USD

Số liệu cho thấy diện tích trồng tiêu là ít nhất, bằng 2/3 diện tích chè, nhưng xuất khẩu đạt giá trị gấp 6 lần so với chè, thậm chí so với cà phê thì cũng thấy là hiệu quả hơn.

Nâng cao vị thế hồ tiêu Việt Nam

Các doanh nghiệp trong ngành cần có nhiều giải pháp để nâng cao vị thế cho hồ tiêu Việt Nam . Trong đó, vấn đề an toàn thực phẩm là là yếu tố then chốt để vượt qua các hàng rào kỹ thuật ở một số thị trường tiềm năng nhưng “khó tính” hiện nay. Nếu ngành hồ tiêu Việt Nam đưa ra được thông điệp “hồ tiêu Việt Nam là an toàn nhất”, khi đó danh tiếng hồ tiêu Việt Nam sẽ được quảng bá hiệu quả nhất.

Về chiến lược phát triển lâu dài cho hồ tiêu Việt Nam không chỉ dừng ở vị trí số 1 về số lượng mà còn cần cả giá trị gia tăng, cần tập trung củng cố, nâng cao chất lượng, giá trị và chú trọng vấn đề kiểm soát an toàn thực phẩm trong toàn chuỗi. Đồng thời, đầu tư thêm nhiều cơ sở chế biến sâu, đa dạng sản phẩm bằng công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao sức mạnh, đáp ứng nhiều thị trường sử dụng gia vị không sử dụng hoá chất.

Đồng thời với việc xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý mà một số địa phương đã làm như hồ tiêu Chư Sê (Gia Lai), hồ tiêu Phú Quốc (Kiên Giang)… cần tiếp tục phân vùng và xây dựng chỉ dẫn địa lý và thương hiệu cho hồ tiêu quốc gia. Chỉ có như vậy, người tiêu dùng, đặc biệt là của các thị trường cao cấp mới có niềm tin vào chất lượng sản phẩm hồ tiêu Việt Nam, nâng tầm giá trị của hồ tiêu Việt Nam trên trường quốc tế. Mặt khác người sản xuất cũng sẽ có trách nhiệm hơn với sản phẩm mình làm ra.

Nông dân, người trồng hồ tiêu trong nước cũng đang phải đối mặt với một số khó khăn, thách thức như: diện tích cây phải tái canh lớn, nhiều vườn tiêu già cỗi sau nhiều năm khai thác, nhiễm bệnh, năng suất giảm dần, tác động của biến đổi khí hậu tới sự phát triển của các vườn tiêu…mặt khác do tự phát, thấy hồ tiêu có hiệu quả, nên nông dân đổ xô trồng cây hồ tiêu không theo quy hoạch, canh tác thiếu bền vững. Đồng thời trong quá trình sản xuất đã sử dụng nhiều phân vô cơ khiến cây tiêu sớm thoái hoá, nhiều nơi sâu bệnh bùng phát, quy trình trồng, chăm sóc chưa đảm bảo các chỉ số an toàn vệ sinh thực phẩm theo yêu cầu ở một số thị trường cao cấp, khó tính như: Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản…

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong ngành đã tập trung đẩy mạnh chế biến sâu, giảm dần xuất khẩu thô, đa dạng hoá sản phẩm theo nhu cầu thị trường, cho giá trị gia tăng cao hơn như sản phẩm tiêu trắng, tiêu bột, tiêu đỏ phục vụ thị trường cao cấp. Hiện tại cũng đã có 18 doanh nghiệp hồ tiêu đầu tư xây dựng nhà máy chế biến tiêu công nghệ hiện đại, công suất 60.000-70.000 MT/năm, trong đó có 14 nhà máy chế biến hồ tiêu đạt tiêu chuẩn Châu Âu, Mỹ…

Kỳ vọng rằng có sự phối hợp tâm huyết của 4 nhà là nhà quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông thì cây hồ tiêu Việt Nam sẽ tiếp tục nổi tiếng, giữ vững được vị thế số 1 trên thế giới, góp phần cho nông dân vùng cao nguyên, núi cao giải quyết được khó khăn trong cuộc sống. Giúp một bộ phận nông dân có việc làm và thu nhập ổn định, đảm bảo cuộc sống và có tiền để đầu tư cho con cái học hành , nâng cao văn hóa, tri thức để có được một tương lai tốt đẹp hơn.

Thành Tâm

Clip hay:



Advertising:

loading...

Các Bài Viết Liên Quan