Vấn đề nợ công đang nóng trên nghị sự Quốc hội, cũng như trên các phương tiện truyền thông, người dân cũng đang quan tâm lo lắng. Để giảm hiện tượng nợ công ngày càng tăng cao, thu không đủ chi, huy động trái phiếu không đủ để trả nợ các khoản nợ đến hạn 16 tỷ đô trong 2015-2016 hiện nay thì cần phải có nhiều biện pháp. Cần phải kiên quyết giảm chi đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước (NSNN), giảm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của nhà nước, giảm chi phí thường xuyên và giảm bộ máy hưởng lương từ nhà nước đang quá kồng kềnh.

Để tránh vết xe đổ, hãy thẳng thắn rút kinh nghiệm từ những công trình đã đầu tư từ nguồn NSNN hàng ngàn tỷ mà vẫn bỏ hoang.

Chuyện nhà máy cán thép tấm nóng, nhà máy phát điện khổ rộng bỏ hoang

Theo Báo Lao Động, Tập đoàn Vinashin đã đầu tư nhà máy cán thép tấm nóng khổ rộng đầu tiên của Việt Nam tại Khu Công nghiệp Cái Lân (TP. Hạ Long) có công suất 500.000 tấn/năm giá trị gần 2.900 tỉ đồng (năm 2007 tương đương 181 triệu USD) và được vận hành chạy thử, cho ra mẻ thép tấm đầu tiên đạt yêu cầu vào tháng 1/2010. Từ đó đến nay, lò luyện luôn trong tình trạng tắt ngấm và không thể bàn giao cho phía Công ty Cán nóng Thép Cái Lân do những vướng mắc của Tập đoàn Vinashin.

Cách đó vài trăm mét là nhà máy (NM) phát điện diesel công suất 39MW cũng được chủ đầu tư Vinashin (nay là Tổng Công ty Công nghiệp Tàu Thủy) ký hợp đồng EPC (chìa khóa trao tay) với trị giá 35,95 triệu USD với một đối tác nước ngoài. Khi chưa kịp phân phối vào lưới điện quốc gia và cung cấp cho NM Cán nóng Thép Cái Lân, vị Chủ tịch Công ty Công nghiệp Tàu thủy Cái Lân khi đó là ông Tô Nghiêm bị cơ quan điều tra bắt giữ và đưa ra xét xử trong vụ án Vinashin. Chỉ khi đó, người ta mới biết là thiết bị chính của NM phát điện diesel được tháo dỡ từ một NM điện cũ sử dụng từ thập niên 70 của thế kỷ trước tại Trung Quốc.

Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy (SBIC) được thành lập trên cơ sở kế thừa Tập đoàn Vinashin, sau khi Vinashin vỡ nợ. Do đó, 2 nhà máy trên vẫn thuộc quyền quản lý của SBIC, nhưng đã 5 năm nay vẫn chưa có giải pháp hồi phục hoạt động các nhà máy này vì nhiều lý do.

Ông Hoàng Việt Văn – Giám đốc Công ty Cán nóng Thép Cái Lân – cho biết: “Do nhà máy cán thép đang mắc khoản nợ chủ yếu từ nguồn trái phiếu chính phủ và một số ngân hàng đang là rào cản, dẫn đến “bế tắc” phương án phục hồi sản xuất”. Theo ông, chỉ cần bảo dưỡng, khởi động chạy lại NM ở mức tối thiểu với số tiền ban đầu trên 100 tỉ đồng, NM Cán thép Cái Lân có thể “hồi sinh” trở lại và cung cấp nguồn thép tấm khổ rộng cho các đơn vị đóng tàu trong nước. Tuy nhiên, ước mơ đó còn quá xa vời, trong khi những gánh nặng về tài chính sau sự vụ Vinashin đang còn đó, để lại hậu quả nghiêm trọng cho đơn vị tiếp quản là SBIC.

Khả năng trở lại sản xuất của NM Phát điện Diesel cũng hoàn toàn mờ mịt. Do nhập công nghệ lạc hậu nên có hoạt động cũng không thể đủ bù chi phí mua dầu chạy máy chứ chưa nói đến chuyện vay nợ. Hiện toàn bộ công nợ và tài sản của NM điện đang bị phong tỏa theo chỉ đạo của chính phủ. “Chúng tôi là một trong số ngân hàng hiện còn dư nợ trên 200 tỉ đồng nhưng theo chỉ đạo, một phần được chuyển sang trái phiếu thanh toán, phần lớn còn lại ngân hàng đưa vào xử lý quỹ rủi ro dự phòng. Trông chờ phía Công ty Công nghiệp Tàu thủy Cái Lân thanh toán… thì chưa biết đến bao giờ” – lãnh đạo Agribank chi nhánh Quảng Ninh cho biết.

Như vậy, sau hơn 5 năm bỏ không, các nhà máy càng ngày càng hư hỏng, xuống cấp, do đó 216 triệu USD đầu tư vào đây có nguy cơ mất trắng. Mới chỉ 2 công trình này đã lãng phí hơn 1/5 tỷ đô rồi.

Câu chuyện Nhà máy Sản xuất Xơ sợi Polyester Đình Vũ

Theo Báo Nông Nghiệp, Nhà máy Sản xuất Xơ sợi Polyester Đình Vũ (PVTex Hải Phòng), do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) nắm giữ trên 75% vốn cổ phần, xây dựng hết trên 7.000 tỷ đồng (325 triệu USD), nhưng xây xong rồi “đắp chiếu” bởi chỉ mới hơn 1 năm hoạt động, đã lỗ tới 1.700 tỷ đồng, đang đứng trước nguy cơ phá sản.

Nhà máy Xơ sợi Polyester Đình Vũ dự định dùng nguyên liệu từ nhà máy lọc dầu Dung Quất để chế biến thành xơ sợi, với mục đích giúp ngành dệt may Việt Nam tự chủ được một phần nguyên liệu.

Nhưng do tất cả các chi phí sản xuất thực tế đều tăng từ 1,5 đến 3 lần so với thiết kế, nên xơ sợi làm ra có giá thành cao, không cạnh tranh nổi với nguyên liệu nhập ngoại. Tính ra mỗi tấn xơ sợi, nhà máy lỗ 3,3 triệu đồng. Nên mới sau hơn 1 năm sản xuất, số lỗ đã lên tới 1.700 tỷ đồng, đành cho nhà máy “đắp chiếu”, sau khi xin “cơ chế đặc thù” như đề nghị Bộ Tài chính áp thuế nhập khẩu và hạn ngạch đối với xơ sợi polyester nhập khẩu, yêu cầu các đơn vị dệt may trong nước phải sử dụng xơ sợi của PVTex Hải Phòng, miễn giảm thuế V.A.T, miễn giảm tiền điện, nước, chi phí thuê đất, chi phí quản lý, xử lý nước thải của khu công nghiệp Đình Vũ đối với PVTex trong 2 năm, nhưng không được.

Do tính toán không sát, ném tiền của nhà nước qua cửa sổ, đến lúc sản xuất mới đội chi phí lên, dẫn đến giá thành cao, không cạnh tranh được, thì lại chạy vạy khắp nơi để xin “cơ chế đặc thù”.

Khi nợ ngân hàng lớn, không có khả năng chi trả thì lại xin chính phủ cho “khoanh nợ”. Đó là thói quen của rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam, có nguồn gốc từ cơ chế xin – cho, vẫn còn khá phổ biến trong tư duy kinh tế của rất nhiều người.

Chính những công trình này góp phần làm khánh kiệt đất nước, làm tăng cao nợ công, chỉ mới 3 công trình đã ngốn hết nửa tỷ USD rồi, nửa tỷ đô là tương đương với doanh thu xuất khẩu của 1 triệu tấn gạo. Trong thực tế còn không ít những công trình đầu tư kém hiệu quả, không tạo ra nguồn thu từ đầu tư này, nên đã dẫn đến thu không đủ chi, không đủ trả nợ vay, và nợ công đang ngày càng tăng cao.

Thành Tâm

Xem thêm:

Clip hay:



Advertising:

loading...

Các Bài Viết Liên Quan