Theo các ghi chép lịch sử còn lưu giữ được tới ngày nay, dưới triều đại nhà Lý – Trần, hai trong số những triều đại hưng thịnh nhất trong lịch sử phong kiến dân tộc, nước ta sở hữu bốn vật báu, được mệnh danh là “Thiên Nam Tứ Đại Khí”. Đó là bốn báu vật  cực lớn được làm bằng đồng, bốn công trình nghệ thuật mà quy mô và sự đồ sộ của chúng khiến các thế hệ con cháu về sau phải sửng sốt, ngả mũ kính phục tài năng và ý chí của ông cha. 

Bốn vật báu trong Tứ đại khí bao gồm “Tượng chùa Quỳnh Lâm”, “Tháp Báo Thiên”, “chuông Quy Điền”, “đỉnh Phổ Minh”. Là những bộ phận không thể tách rời của các công trình kiến trúc Phật Giáo quan trọng bậc nhất của thời đại chính là đặc điểm chung dễ nhận thấy nhất của nhóm các công trình này. Đặc điểm chung này cũng sẽ hé lộ cho thế hệ sau những hiểu biết rất đáng giá về cuộc sống của nhân dân dưới hai triều đại phong kiến huy hoàng này.

Hãy cùng ngược dòng lịch sử, lần theo những dấu vết còn được lưu lại để có được hình dung rõ nét hơn về bốn báu vật trong quá khứ của dân tộc.

1. Tượng chùa Quỳnh Lâm – Chùa Quỳnh Lâm, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Chùa cổ Quỳnh Lâm, nằm trên núi Quỳnh Lâm, tương truyền được xây dựng vào thời nhà Lý, nhưng theo các thư tịch cổ còn lưu giữ được, ngôi chùa được vua Trần Anh Tông (1293-1314) xây dựng để thiền sư Pháp Loa làm giảng viện. Ngôi chùa được mệnh danh là “Thiên Nam đệ nhất danh lam” dưới thời nhà Trần này chính là nơi tọa lạc của Đại khí đầu tiên, pho tượng Phật khổng lồ được đúc hoàn toàn bằng đồng.

Theo văn bia của của Quỳnh Lâm còn lưu giữ được, pho tượng Phật nổi tiếng này cao 6 trượng (khoảng 20m, xấp xỉ chiều cao của một tòa nhà 3 tầng). Để bảo vệ bức tượng khỏi sự tàn hoại của các hiện tượng thiên nhiên, một tòa điện cao 7 trượng (xấp xỉ 23,7m) đã được xây dựng để chứa tượng. Trong dân gian xưa còn lưu truyền câu ca, ca ngợi thắng cảnh chùa Quỳnh Lâm, khiến chúng ta có thể hình dung sự to lớn của tòa tháp chứa Phật cũng như sự đồ sộ của ngôi chùa này.

Cho đến nay, các nhà lịch sử vẫn chưa tìm được những cứ liệu cần thiết để ước lượng trọng lượng của Pho tượng Phật chùa Quỳnh Lâm. Hiện nay, không có bất cứ hình ảnh nào của tượng Phật chùa Quỳnh Lâm được lưu lại, chúng ta có thể tham khảo những số liệu của bức tượng Phật bằng đồng lớn nhất Nhật Bản, được đặt tại chùa Todaiji của đất nước Phù Tang và các hình ảnh của pho tượng này để có thể hình dung rõ hơn về quy mô của tượng Phật tại Quỳnh Lâm thế kỉ 13-14.


Bức tượng Phật bằng đồng lớn nhất Nhật Bản, đặt tại chùa Todaji, có chiều cao 15 m (Nguồn ảnh: Sưu tầm internet)

 2. Chuông Quy Điền – Chùa Diên Hựu, kinh thành Thăng Long

Vào năm 1080, chuông Quy Điền được vua Lý Thái Tông cho đúc trong một lần tu sửa chùa Diên Hựu, một ngôi chùa thiêng được xây dựng khi nhà vua mộng thấy Đức Quán Âm Bồ Tát dắt lên tòa sen. Chùa Diên Hựu là một trong nhưng ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất ở ta, mang hình tượng bông sen ngàn cánh mọc lên giữa ao thơm Linh Chiểu. Chuông được đặt tên là Giác Thế Chung (ngụ ý sẽ là tiếng chuông thức tỉnh con người thế gian). 


Chùa Diên Hựu hay còn gọi là Chùa một cột ngày nay (Ảnh dẫn qua: vietnamjettravel.com)

Chuông Quy Điền được ghi chép lại là một chiếc chuông khổng lồ. Để treo chuông, người xưa đã phải xây dựng một lầu chuông bằng đá xanh, cao tới 8 trượng (tương đương 25m). Tuy nhiên chiếc chuông này khi đúc xong, đánh lại không phát ra âm thanh. Vì lẽ đó, nhà vua đã hạ lệnh chuyển chuông ra thửa ruộng sau chùa. Ruộng này trũng nên hàng năm có rất nhiều rùa về đây làm tổ. Có lẽ vì vậy, tên của chuông nhanh chóng bị thay thế bởi tên gọi dân gian Chuông Quy Điền và trở nên rất nổi tiếng trong cả nước. 


Chuông chùa Bái Đính, chiếc chuông đồng lớn nhất Việt Nam hiện nay, cao 5,5m chỉ có chiều cao bằng 1/5 chiều cao chiếc chuông Quy Điền trong lịch sử. (Ảnh dẫn qua: dongphuockieu.vn)

3. Tháp Báo Thiên- Chùa Sùng Khánh Báo Thiên, huyện Thọ Xương, kinh thành Thăng Long

Kinh thành Thăng Long còn sở hữu một đại khí thứ hai. Bên phải đền Lý Quốc Sư đến đầu phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội ngày nay, xưa kia chính là vị trí của chùa Sùng Khánh Báo Thiên, được vua Lý Thánh Tông cho xây dựng vào năm 1056. Năm 1057, nhà vua tiếp tục cho xây dựng một tòa tháp cao 20 trượng (khoảng 70m) ngay trong khuôn viên ngôi chùa này, đặt tên là “Đại thắng tư thiên bảo tháp”, dân gian quen gọi là Tháp Báo Thiên.


Chùa Sùng Khánh Báo Thiên tại Kinh Thành Thăng Long (Ảnh dẫn qua: hieuminh.org)

Về tầm vóc kiến trúc, theo các ghi chép lịch sử còn lại, tòa tháp này được xây dựng với số tầng chẵn (12 hoặc 30 tầng theo các văn bản lịch sử khác nhau). Các tầng dưới của tòa tháp kì vĩ này được xây bằng đá, các tầng trên và đỉnh tháp được đúc toàn bằng đồng, đỉnh tháp có tượng người tiên bưng mâm ngọc.

Xưa kia, tòa tháp được xây dựng với số tầng chẵn, tương truyền nhằm mục đích biểu thị sự cân bằng, ổn định, tĩnh tại, bền vững của triều đình nhà Lý, đồng thời thể hiện ước vọng nước nhà sẽ tồn tại dài lâu cùng trời đất. Tên “Đại thắng tư thiên bảo tháp” như một sự tỏ bày cùng thiên địa những chiến công hiển hách của dân tộc trong những năm tháng đã qua. Không chỉ có vậy, trên đỉnh tháp, nhà vua còn cho khắc ba đại tự Đáo Lỵ Thiên (Lên Tận Trời Cao), thể hiện ý chí của bậc quân vương mong muốn đưa tầm vóc nước ta vươn lên, đạt tới tầm cao mới.

Được xây dựng hiện ngang giữa kinh đô, trên phần đất bằng phẳng, trung tâm nhất, tháp Báo Thiên dường như không mang nhiều ý nghĩa của một tòa tháp Phật. Xét ở một góc độ nào đó, chúng ta có thể cảm nhận, Tháp Báo Thiên mang ý nghĩa tương đồng với một Khải Hoàn Môn của dân tộc Việt, một công trình vinh danh chiến thắng lẫy lừng của quốc gia, là cột chống trời trong văn hóa dân tộc lúc bấy giờ.


Chùa Sùng Khánh Báo Thiên trước kia được xây dựng ởtại vị trị nay là Nhà thờ lớn Hà Nội (Ảnh dẫn qua: sachhiem.net)

4. Đỉnh Phổ Minh – Chùa Phổ Minh (chùa Tháp), xã Tức Mạc, Nam Định 

Chù Phổ Minh cũng được đánh giá là một trong những ngôi chùa có vị trí quan trọng trong nền phật giáo nước nhà, được xây dựng ở phía Tây cung Trùng Khánh. Đỉnh Phổ Minh là chiếc đỉnh (có nơi ghi chép là chiếc vạc) được được đúc bằng đồng có kích thước vô cùng to lớn đặt tại chùa, vào tháng 2 năm Nhâm Tuất (1262) đời Trần Thánh Tông. Chiếc vạc đồng này được coi là một biểu tượng của nghệ thuật Phật giáo đương thời. 

Về kích thước, theo một ghi chép trong phần phụ cuối sách Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trãi (thời Lê, thế XV), trong bài Phổ Minh Tự Đỉnh), chiếc vạc đồng được đặt tại chùa Phổ Minh là một chiếc vạc vĩ đại không đâu sánh kịp: vạc sâu 4 thước (tương đương 13m), rộng 10 thước (tương đương 33m), nặng 6150 cân ta (tương đương 3,7 tấn) (cân ta là một đơn vị đo lường cổ; 1 cân ta = 604,5 gam). Theo các hiểu biết còn được truyền lại tới ngày nay, miệng vạc dày và rộng đến mức hai người có thể chạy đuổi nhau trên thành của vạc đồng này. 


Một dạng vạc thường được đặt trong các sân chùa Việt Nam thời trước (Ảnh minh họa: dẫn qua lichsuvn.net)

Khi mang quân sang xâm lược Đại Việt, nhà Minh đã dùng mọi thủ đoạn để phá hủy nền văn hóa Đại Việt. Được coi là những vật chứa đựng nguyên khí của quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của dân tộc Việt nên cả bốn tứ đại khí đều đã phá hủy để chế thành vũ khí.

Tứ Đại khí tuy không còn nhưng danh tiếng vẫn âm vang trong lịch sử dân tộc

Có thể nói, An Nam tứ đại khí đã ra đời trong thời kì hưng thịnh nhất của một giai đoạn lịch sự của nước nhà. Chính vì vậy, nó thâu nạp vào đó rất nhiều những tinh hoa của dân tộc trong thời kì lịch sử này. Rõ nét nhất, phải kể đến kĩ thuật chế tác, đúc đồng của ông cha ta. Công việc này không chỉ đòi hỏi những tính toán và thao tác chính xác, mà nó còn đòi hỏi cả tính thẩm mỹ trong việc tạo tác. Vì thế, quy mô và độ tinh xảo cần có của những tác phẩm được nhà vua tuyển chọn đặt trong các chùa, vốn là các công trình kiến trúc linh thiêng, rất được quý trọng thời bấy giờ có thể giúp chúng ta hình dung được sự tài năng và khéo léo của các bậc nghệ nhân trong quá khứ.

Dưới góc nhìn văn hóa, từ việc các vua thời Lý-Trần đầu tư một phần rất lớn trong ngân khố quốc gia cho việc kiến tạo bốn công trình này, cùng ý nghĩa được gửi gắm trong mỗi báu vật, chúng ta có thể hình dung được phần nào bối cảnh đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân cũng như tư tưởng của các vị minh quân thời bấy giờ. Bốn vật báu đều được đặt trong các công trình Phật giáo lớn là một minh chứng quan trọng cho vị thế của tôn giáo này trong đời sống văn hóa dân tộc đương thời. Có lẽ danh tiếng về sự kỳ vĩ của tứ đại khí cũng góp phần khắc sâu trong tâm thức người dân Việt những triết lý Phật giáo mang đậm tính nhân sinh, hướng thiện. Phải chăng, đây chính là lý do quan trọng giải thích cho sự hưng thịnh, thái bình của đất nước trong hai triều đại này.


Thiên hạ thái bình dưới hai triều đại Nhà Lý- Nhà Trần (Ảnh minh họa: dẫn qua freehdw.com)

An Nam tứ đại khí tuy đã không thể trường tồn cùng dân tộc như mong ước của những bậc quân vương xưa. Nhưng tầm vóc và những ý nghĩa mà thời đại gửi gắm trong những tác phẩm này vẫn còn nguyên giá trị cho tới ngày hôm nay. Qua chúng, người đời sau sẽ có thêm động lực để tìm hiểu nhằm có được nhận định đúng về những giá trị mà người xưa kiến tạo, cũng như có thêm cảm hứng để gây dựng nên những công trình thực sự mang đến ý nghĩa trong đời sống thực tại cho đời sống văn hóa của dân tộc.

Ly Ly (tổng hợp)
Tham khảo: gocque.com, bachkhoatrithuc.vn, chuaphuclam.vn

Xem thêm: 

Clip hay:



Advertising:

loading...

Các Bài Viết Liên Quan